Chương 1 nêu lên cơ sở hình thành đề tài, mục tiêu, phạm vi, ý nghĩa, tình hình nghiên cứu và kết cấu của đề tài. Chương 2 giới thiệu cơ sở lý thuyết về dịch vụ, chất lượng dịch vụ. Chương 3 là phần giới thiệu về Công ty tài chính Prudential Việt Nam. Phần phương pháp nghiên cứu nằm ở Chương 4.
Chương 5 và 6 thể hiện các kết quả nghiên cứu, kết luận và kiến nghị cụ thể. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ DỊCH VỤ VÀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 2.1 Giới thiệu về dịch vụ Trước đây nền kinh tế của một quốc gia dựa trên ngành công nghiệp sản xuất. Quốc gia nào càng sản xuất ra nhiều hàng hóa thì càng thịnh vượng. Nhưng bây giờ bắt đầu có những thay đổi về kinh tế.
Chúng ta đang có xu hướng dịch chuyển từ một xã hội công nghiệp sang một xã hội dịch vụ và kiến thức. Dịch vụ là một hoạt động ảnh hưởng tới tất cả mọi mặt trong cuộc sống của chúng ta. Khi con người cân nhắc tới giá trị của thời gian, thì nhu cầu về dịch vụ ngày càng tăng. Dịch vụ cũng giúp chúng ta nâng cao chất lượng của thời gian nhàn rỗi bằng cách cung cấp nhiều loại hình giải trí khác nhau.
Các loại hình dịch vụ phổ biến hiện nay là: Dịch vụ xã hội, con người: nhà hàng, chăm sóc sức khỏe Dịch vụ hành chính: giáo dục, chính quyền Dịch vụ bán hàng: bán lẻ, sửa chữa, duy tu Dịch vụ công trình cơ sở: thông tin liên lạc, giao thông vận tải Dịch vụ kinh doanh: tư vấn, tài chính, ngân hàng 2.2 Định nghĩa dịch vụ Dịch vụ là một quá trình gồm các hoạt động hậu cần và các hoạt động phía trước, nơi mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tương tác với nhau. Mục đích của việc tương tác này là nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng theo cách khách hàng mong đợi, cũng như tạo ra giá trị cho khách hàng. Dịch vụ là một quá trình có mức độ vô hình cao. Việc tạo ra hay hình thành một dịch vụ thường xảy ra trong quá trình tương tác giữa khách hàng với tổ chức.
Thông thường một dịch vụ trọn gói gồm có bốn thành phần: Phương tiện: phải có trước khi dịch vụ có thể cung cấp. 6 Hàng đi kèm: hàng được mua hay tiêu thụ hoặc là tài sản của khách hàng cần được xử lý. Dịch vụ hiện: những lợi ích trực tiếp và là khía cạnh chủ yếu của dịch vụ. Dịch vụ ẩn: những lợi ích mang tính tâm lý do khách hàng cảm nhận.3 Những đặc thù hay tính chất của ngành dịch vụ Dịch vụ có đặc thù hay tính chất giúp ta có thể phân biệt được với các loại hàng hoá khác.
Người ta phân biệt có một số đặc thù sau đây: Tính vô hình: Tính vô hình là tính chất không thể sờ mó hay nắm bắt dịch vụ, không có hình dạng như một sản phẩm. Những kinh nghiệm về dịch vụ khách hàng thường bao gồm một chuỗi các hoạt động. Mỗi hoạt động đại diện cho một vài tương tác giữa tổ chức cung cấp dịch vụ với khách hàng. Do đó về cơ bản, sản phẩm dịch vụ là việc thực hiện, mà nó trái ngược với sản phẩm vật lý vốn hữu hình.
Một dịch vụ không phải là một vật thể để chúng ta có thể giữ trong tay hay kiểm tra, chúng ta cũng không thể sờ mó, nếm thử hay mặc thử một dịch vụ, cũng khó để chúng ta có thể tưởng tượng ra tác động của một dịch vụ, chẳng hạn như một kiểu tóc mới hoặc một buổi trình diễn âm nhạc. Và do tính chất vô hình, một dịch vụ không thể thao diễn hoặc diễn mẫu trước. Tính không thể tách rời: Tính không thể tách rời của dịch vụ ở đây muốn nói tới việc khó khăn trong việc phân biệt giữa việc tạo thành một dịch vụ và việc sử dụng dịch vụ như là hai công việc riêng biệt hoặc hai quá trình riêng biệt. Một dịch vụ không thể tách thành hai giai đoạn: giai đoạn tạo thành và giai đoạn sử dụng nó.
7 Sự tạo thành và sử dụng của hầu hết các dịch vụ sẽ xảy ra đồng thời với nhau. Dịch vụ và hàng hóa không giống nhau. Hàng hóa đầu tiên được sản xuất, đưa vào kho, bán và sử dụng. Còn một dịch vụ được tạo ra và được sử dụng suốt quá trình tạo ra dịch vụ đó.
Ví dụ như một bài học piano đòi hỏi sự hiện diện của người học (khách hàng). Và dịch vụ này không thể xảy ra mà không có sự hiện diện của khách hàng. Nói một cách khác, khách hàng là một thành viên trong quá trình dịch vụ. Tính không đồng nhất: Tính không đồng nhất ở đây muốn nói tới sự khác nhau của các mức độ thực hiện dịch vụ.
Có nghĩa là dịch vụ có thể được xếp hạng từ rất kém cho đến hoàn hảo. Tính không đồng nhất liên quan đến sự biến thiên cao trong việc thực hiện dịch vụ. Những vấn đề thiết yếu và chất lượng của dịch vụ có thể thay đổi tùy theo người phục vụ, khách hàng và thời gian. Về căn bản, tính biến thiên trong dịch vụ cũng dễ xảy ra và xảy ra thường xuyên hơn so với sự không phù hợp của các sản phẩm hữu hình, bởi vì dịch vụ có mức độ tương tác con người cao.
Đặc điểm này làm cho việc chuẩn hóa dịch vụ trở nên khó khăn hơn. Tính không thể tồn trữ: Ta không thể cất dịch vụ và sau đó lấy ra dùng. Một dịch vụ sẽ biến mất nếu ta không sử dụng nó. Ta không thể tồn trữ dịch vụ, vì vậy một dịch vụ không thể được sản xuất, tồn kho và sau đó đem đi bán.
Sau khi một dịch vụ được thực hiện xong, không một phần nào của dịch vụ có thể phục hồi lại được. Ví dụ, nếu chỉ có 80% số ghế của buổi biểu diễn có người ngồi thì ta không thể để dành 20% số ghế trống còn lại cho lần sau biểu diễn. Ta cũng không thể bán một nữa số ghế ngồi của chuyến bay ngày hôm nay cho khách hàng bay ngày hôm sau. Vì vậy số ghế trống trong một chuyến 8 bay chính là tổn thất và số ghế trống đó không còn cơ hội để bán tiếp cho Khách hàng.
Để giảm ảnh hưởng của tính chất không thể tồn trữ được của dịch vụ, người ta cố gắng bán các dịch vụ ở mức cao nhất của nó. CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 2. Định nghĩa chất lượng dịch vụ Nhiều cuốn sách về chất lượng dịch vụ thường gặp khó khăn khi xác định hay định nghĩa chất lượng dịch vụ. Nhìn chung người ta định nghĩa chất lượng dịch vụ là những gì mà khách hàng cảm nhận được.
Một vài chuyên gia về chất lượng đã cố gắng định nghĩa chất lượng như sau: - “Sự đáp ứng các yêu cầu” (Philip Crosby) - “Mức độ tin cậy có thể biết trước đảm bảo rằng chi phí thấp nhất, phù hợp với thị trường” (W. - “Chất lượng là sự phù hợp khi sử dụng, điều này do người sử dụng đánh giá” (Hoseph M. Mỗi khách hàng thường cảm nhận khác nhau về chất lượng, do đó việc tham gia của khách hàng trong việc phát triển và đánh giá chất lượng dịch vụ là rất quan trọng. Trong lĩnh vực dịch vụ, chất lượng là một hàm của nhận thức khách hàng.
Nói một cách khác, chất lượng của dịch vụ được xác định dựa vào nhận thức, hay cảm nhận của khách hàng liên quan đến nhu cầu cá nhân của họ. Chất lượng trong dịch vụ rất quan trọng bởi vì: Công nghiệp dịch vụ tụt lại phía sau so với công nghệ chế tạo trong những nỗ lực cải tiến chất lượng. Sự không hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ mà họ nhận được rất cao. 9 Các công ty sản xuất cần phải tạo ra sự khác biệt về sản phẩm đối với đối thủ cạnh tranh, và các dịch vụ hỗ trợ sẽ giúp cho họ những cơ hội này.
Do đó, mỗi công ty, bất luận là công ty cung cấp dịch vụ hay công ty sản xuất hàng hóa đều phải học cách đối phó với sự cạnh tranh mới từ nền kinh tế dịch vụ. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 2. Các loại sai lệch (khoảng cách) trong nhận thức chất lượng của dịch vụ Khi nghiên cứu và xác định chất lượng trong dịch vụ, chúng ta cần phân biệt ba cách nhìn về nó: Chất lượng mà khách hàng mong đợi, chất lượng mà nhà quản lí mong muốn, và chất lượng mà khách hàng cảm nhận được. Khi đã phân biệt như trên chúng ta mới có thể phân tích một cách đầy đủ về chất lượng dịch vụ và sự không đồng nhất giữa mong muốn của nhà quản lí và những mong muốn của khách hàng.1: Mô hình chất lượng trong dịch vụ 10 Mô hình chất lượng trong dịch vụ ở hình 2.1 là mô hình phân biệt các loại sai lệch trong dịch vụ.
Mô hình này trình bày năm loại sai lệch có thể ảnh hưởng và làm giảm chất lượng dịch vụ cảm nhận được. Khoảng cách loại 1: khoảng cách giữa nhận thức của nhà quản lý với mong muốn của khách hàng. Khoảng cách loại 2: khoảng cách giữa các đặc tính của chất lượng dịch vụ với nhận thức của nhà quản lý. Khoảng cách loại 3: khoảng cách giữa việc cung cấp dịch vụ với các đặc tính chất lượng dịch vụ.
Khoảng cách loại 4: khoảng cách giữa những thông tin thông báo cho khách hàng với việc cung cấp dịch vụ. Khoảng cách loại 5: khoảng cách giữa dịch vụ mong muốn và dịch vụ nhận được. Các phương pháp đánh giá chất lượng dịch vụ Có khá nhiều lý thuyết nghiên cứu các cách đánh giá đo lường chất lượng dịch vụ, trong đó, có thể kể đến một số các mô hình: 4Ps, chất lượng được nhận thức, mười thành phần chất luợng, SERVQUAL và SERVPERF. Mô hình 4P Chất lượng toàn diện của dịch vụ cũng có thể được định nghĩa như là nhận thức của khách hàng về 4P: - Product (Sản phẩm): những đặc tính dịch vụ được cung cấp.
- Procedure (Thủ tục phục vụ): những thủ tục trong quá trình phục vụ khách hàng đơn giản hay phức tạp. - Provider (Người phục vụ): phẩm chất của người trực tiếp cung cấp dịch vụ. - Problem (Cách giải quyết tình huống bất thường): khả năng đối phó, xử lý các tình huống bất ngờ xảy ra trong quá trình phục vụ. Mô hình chất lượng được nhận thức: Nhận thức khách hàng về một dịch vụ dựa trên hai yếu tố: 11 - Chất lượng chức năng: nhận được cái gì? - Chất lượng do cảm giác con người: nhận như thế nào?