Chương 1: Lý luận chung về đô la hóa nền kinh tế Chương 2: Thực trạng đô la hóa tại Việt Nam Chương 3: Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng đô la hóa tại Việt Nam 3 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÔ LA HÓA NỀN KINH TẾ 1. TỔNG QUAN VỀ ĐÔ LA HÓA NỀN KINH TẾ 1.1 Định nghĩa đô la hóa Theo cách định nghĩa thông thường, đô la hoá là trong một nền kinh tế khi ngoại tệ được sử dụng một cách rộng rãi thay thế cho đồng bản tệ trong toàn bộ hoặc một số chức năng tiền tệ, nền kinh tế đó bị coi là đô la hoá toàn bộ hoặc một phần. Theo định nghĩa của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), một nền kinh tế được coi là có tình trạng đô la hoá cao khi mà tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ (FCD) chiếm từ 30% trở lên trong tổng phương tiện thanh toán (FCD/M2); bao gồm: tiền mặt trong lưu thông, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi ngoại tệ. Theo đánh giá của IMF đến 2015 trường hợp đô la hóa cao có 10 nước, trường hợp đô la hóa cao vừa phải có trên 30 nước (Nguồn: Nghiên cứu của IMF).
Theo quan điểm chung cũng như quan điểm của tác giả về đô la hóa: đô la hóa là tình trạng một đồng tiền nước ngoài thực hiện một trong các chức năng cơ bản của đồng nội tệ như: phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy, thước đo giá trị.2 Phân loại đô la hóa 1. Căn cứ vào hình thức và mức độ đô la hóa: Căn cứ vào hình thức và mức độ đô la hóa người ta chia ra làm ba loại: đô la hoá chính thức (official dollarization), đô la hoá bán chính thức (semiofficial dollarization) và đô la hoá không chính thức (unofficial Dollarization). Đô la hoá chính thức (hay còn gọi là đô la hoá hoàn toàn): xảy ra khi đồng ngoại tệ là đồng tiền hợp pháp duy nhất được lưu hành. Quá trình này diễn ra khi Chính phủ của một nước không phát hành nội tệ mà thay vào đó sử dụng đô la Mỹ hoặc một ngoại tệ khác như một tiền tệ chính thức (một số ít các nước đô la hóa chính thức có phát hành tiền xu nhưng vì tiền xu có mệnh giá thấp và thường là một phần phụ trong cung tiền tệ nên có không ảnh hưởng đến đô la hóa).
Như vậy, ở những nước này, ngoại tệ không chỉ sử dụng trong trao đổi mua bán giữa các cá nhân mà còn là phương tiện thanh toán của Chính phủ. Thông thường các nước chỉ áp dụng đô la hóa chính thức sau khi đã thất bại trong việc thực thi các chương trình ổn định kinh tế. Khi một nước thực hiện đô la hóa chính thức thì mặc nhiên nó sẽ trở thành một bộ phận trong khu vực tiền tệ thống nhất cùng với nước có đồng tiền mà nó đang sử dụng. Và như vậy, nước đô la hóa chính thức sẽ từ bỏ CSTT độc lập của mình và áp dụng những CSTT của nước mà nó đang sử dụng đồng tiền.
Vì vậy, nước thực hiện đô la hóa chính thức sẽ không thể phản ứng lại những cú sốc kinh tế bằng cách thay 4 đổi chính sách tỉ giá hối đoái của nước mình. Tuy nhiên, nước này vẫn có thể sử dụng những phương cách khác như điều chỉnh dòng vốn vào/ra, thay đổi chính sách giá, chính sách kinh tế. Các quốc gia bị đô la hóa đồng tiền đều không phát hành đồng nội tệ, trong khi đó cũng có một số nước, chẳng hạn như Panama, phát hành đồng nội tệ như là sự lựa chọn thứ 2 của mình. Đô la hoá chính thức không có nghĩa là chỉ có một hoặc hai đồng ngoại tệ được lưu hành hợp pháp.Tuy nhiên, các nước đô la hoá chính thức thường chỉ chọn một đồng ngoại tệ làm đồng tiền hợp pháp.
Đô la hoá bán chính thức: Đô la hóa bán chính thức xảy ra khi một nước sử dụng đồng ngoại tệ như là đồng tiền pháp định nhưng đóng vai trò thứ hai sau đồng nội tệ trong việc chi trả tiền lương, thuế và các chi tiêu hàng ngày như tiền đi chợ, tiền điện, nước… Không giống như các nước thực hiện đô la hóa chính thức, những nước có đô la hóa bán chính thức vẫn giữ một NHTW trong nước hoặc một hệ thống tiền tệ khác và có một khu vực riêng để thực hiện chính sách tiền tệ của mình. Một quốc gia có hiện tượng này, tiêu biểu như: Brunei, Tajikistan, Liberia, Lào, Campuchia. Đô la hoá không chính thức: Đô la hóa không chính thức xảy ra khi giá trị của đồng nội tệ dao động quá nhiều vì vậy đồng đô la được sử dụng để giao dịch mua bán, tiết kiệm cá nhân và khi vay tiền vì nó đáng tin hơn. Do đó người dân cất trữ phần lớn tài sản của mình bằng ngoại tệ ngay cả khi ngoại tệ đó không phải là đồng tiền pháp định của nước mình.
Trên thực tế, ở rất nhiều nước, đô la hóa không chính thức mặc nhiên tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau bất chấp các quy định của luật pháp. Ở một số nước thì việc cất trữ tài sản nước ngoài là hợp pháp nhưng một số nước khác thì không cho phép dân chúng nắm giữ các tài sản nước ngoài, chẳng hạn cấm mở tài khoản bằng ngoại tệ ở nước ngoài. Thuật ngữ đô la hóa không chính thức được dùng bao gồm cho cả hai trường hợp, hợp pháp lẫn bất hợp pháp. Hình thức đơn giản nhất của đô la hóa không chính thức là việc dân chúng có thể gửi tiền ở ngân hàng bằng ngoại tệ hoặc cất trữ đô la tiền mặt nhưng vẫn tiếp tục dùng đồng tiền nội tệ trong hoạt động mua bán hàng ngày.
Giai đoạn này thường được gọi là “thay thế tài sản” bởi vì hành động này của dân chúng là nhắm đến việc bảo đảm an toàn tài sản của mình khi có lạm phát xảy ra với đồng tiền trong nước. Ở giai đoạn cao hơn, thường được gọi là “thay thế tiền tệ” đó là lúc người ta dùng đô la trong các giao dịch có giá trị lớn như mua xe, mua nhà và sử dụng đô la tiền mặt như một phương tiện thanh toán và phương tiện cất trữ. Chỉ những giao dịch thông dụng, có giá trị nhỏ như tiền điện, nước, mua sắm các vật dụng hàng ngày hoặc những giao dịch mà chính phủ bắt buộc như nộp thuế, chi trả tiền lương mới sử dụng bằng nội tệ. 5 Giai đoạn cuối của tiến trình đô la hóa không chính thức là lúc dân chúng thường suy nghĩ và tính toán theo đô la, giá của đồng tiền trong nước luôn được quy ra theo đô la.
Như vậy, nhìn chung đô la hóa không chính thức là việc dân chúng cất giữ các tài sản dưới những hình thức sau: Chứng khoán nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào khác (không phải là tiền tệ) của nước ngoài. Tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài. Tiền gửi bằng ngoại tệ ở ngân hàng trong nước. Ngoại tệ tiền mặt.
Việc đo lường mức độ đô la hóa không chính thức rất khó khăn vì người ta không thể thống kê chính xác được lượng đô la mà dân chúng nắm giữ, số dư tiền gửi bằng ngoại tệ ở trong nước và nước ngoài, giá trị của các tài sản nước ngoài do dân chúng nắm giữ do đó người ta chỉ có thể ước đoán mức độ lưu hành của đồng đô la Mỹ và một số tiền tệ khác để đưa ra hình ảnh sơ bộ về sự phổ biến của việc đô la hóa không chính thức. Hầu hết các nghiên cứu về đô la hóa được tập trung vào đô la hóa không chính thức bởi vì lợi ích và thiệt hại từ việc đô la hóa không chính thức là không rõ ràng, rất khó tính toán và rất khác nhau tùy thuộc vào đặc thù của từng nước. Về ưu điểm, đô la hóa không chính thức sẽ giúp chống được hiện tượng lạm phát đối với đồng nội tệ đồng thời góp phần làm cho hệ thống ngân hàng hoạt động bền vững hơn. Khi Chính phủ cho phép ngân hàng trong nước nhận tiền gửi bằng ngoại tệ sẽ góp phần hạn chế được hiện tượng dân chúng đem tiền gửi ở nước ngoài và do vậy sẽ ít có nguy cơ dân chúng đổ xô đến ngân hàng rút tiền khi đồng nội tệ mất giá.
Tuy nhiên, điều này sẽ dẫn đến bất lợi là rất dễ tạo nên tình trạng đồng nội tệ mất giá đột ngột khi dân chúng đồng loạt quay sang dùng ngoại tệ và điều này cũng sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trung ương trong việc điều hành CSTT của mình. Căn cứ theo hình thức thể hiện Đô la hóa tài chính là việc thay thế tài sản Có/Nợ bằng đồng nội tệ bằng tài sản Có/Nợ phải trả bằng đồng ngoại tệ. Đô la hóa “thực” liên quan đến việc chỉ số hoá các giao dịch trong nước bằng tỷ giá hối đoái. Đô la hóa giao dịch hoặc đồng tiền thay thế có nghĩa là đồng đô la (hoặc một loại ngoại tệ khác) được sử dụng như một phương tiện thanh toán trong các giao dịch trong nước.
Các tiêu chí đo lƣờng mức độ đô la hóa Tiêu chí thứ nhất: Theo IMF, tiêu chí để đo lường mức độ đôla hóa của một quốc gia là cao hay thấp chính là tỷ lệ tiền gửi bằng ngoại tệ / tổng phương tiện thanh toán (FCD/M2). Một nền kinh tế được coi là có tình trạng đô la hóa cao khi FCD/M2 từ 30% trở lên; đô la hóa trung bình khi FCD/M2 từ 15% đến dưới 30%; đô la hóa thấp khi FCD/M2 dưới 15%. Tuy vậy, xin nhấn mạnh, tiêu chí này chỉ chính xác đối với những quốc gia mà người dân sử dụng tiền qua ngân hàng là chủ yếu. Đối với những quốc gia mà người dân có thói quen sử dụng tiền mặt là phổ biến thì tiêu chí trên sẽ không hoàn toàn chính xác.
Tiêu chí thứ hai: Để đo lường mức độ đô la hóa, ngoài tỷ lệ FCD/M2, còn sử dụng các tiêu chí khác như đô la hóa tiền gửi ngoại tệ (đo lường bằng tỷ lệ huy động ngoại tệ/tổng huy động) và đô la hóa tiền vay (tỷ lệ tín dụng ngoại tệ/tổng dư nợ tín dụng), đô la hóa dưới dạng tiền mặt trong lưu thông của khu vực dân cư. NGUYÊN NHÂN CỦA ĐÔ LA HÓA NỀN KINH TẾ Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng đô la hóa nền kinh tế, tuy nhiên có thể thấy có một số nguyên nhân chủ yếu cụ thể như sau: 2.