CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ HỆ THỐNG MẠNG 1. Mô tả bài toán 1. Tên công ty: Công ty TNHH Phần mềm FPT – FPT Software ● Trụ sở chính: FPT Tower, số 10, đường Phạm Văn Bạch, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, Hà Nội ● Hotline: 0243 768 9048 ● Email: support@fpt-software.com ● Website: fpt-software. Sơ đồ các phòng ban chức năng của công ty 3 3.
Sơ đồ vật lý và hạ tầng mạng của công ty 4 4. Sơ đồ các dịch vụ triển khai cho hệ thống IT của công ty 1.2 Giới thiệu về quản lý hệ thống mạng Cùng với ứng dụng doanh nghiệp và lưu trữ quan trọng cần thiết cho các hoạt động dịch vụ phụ thuộc vào tính có sẵn và độ tin cậy liên tục của mạng công ty. Bởi vì việc sử dụng ngày càng gia tăng các liên kết không dây, internet để mở rộng mạng doanh nghiệp đã tăng thêm tính phức tạp cho việc quản lý mạng. Trong khi nhiều công ty thích giữ lại sự kiểm soát đối với các tài nguyên mạng của mình.
Nhưng công ty khác phụ thuộc vào các nhà cung cấp máy tính và các hãng truyề thông để tìm kiếm và sử lý các vấn đề trên mạng cảu họ hoặc phụ thuộc vào hãng truyền thông để tìm và xử lý các vấn đề trên mạng của họ hoặc phụ thuộc vào nhóm thứ ba. Cho dù những trách nhiệm này nằm ở đâu đi chăng nữa, tập hợp công cụ được sử dụng để giám sát tình trạng của mạng và bắt 5 đầu hành động sữa chữa là NMS – Network Management System (các hệ thống quản lý mạng). Ngoài việc cải thiện tính có sẵn của mạng và độ tin cậy của dịch vụ, mục đích của một NMS là tập trung hóa việc kiểm soát các thành phần mạng, giảm thời gian nhân viên ở các tác vụ quản lý và ngăn chi phí bảo trì và vận hành. NMS có thể thực sự giảm chi phí và tính phức tạp của mạng ngày nay bằng việc cung cấp một bộ công cụ tích hợp vốn cho các nhân viên công nghệ thông tin cô lập và chuẩn đoán mạng một cách nhanh chóng.
Khả năng phân tích và giải quyết các sự cố mạng từ một vị trí trung tâm là điều quan trọng đối với việc quản lý các tài nguyên và nhân sự một cách phù hợp. Sau đây là những yêu cầu tối thiểu đối với bất kỳ NMS nào: - Quản lý lỗi: chức năng này gồm phát hiện, cô lập và sữa chữa các sự kiện vốn có trách nhiệm về hoạt động mạng bất thường. Người quản lý lỗi cung cấp phương tiện để nhận những cảnh báo, quyết định nguyên nhân của một lỗi mạng, cô lập lỗi và thực thi hành động sữa chữa. - Quản lý cấu hình: chức năng này bao gồm thiết lập, bảo trì và cập nhập các thành phần của mạng.
Việc quản lý cấu hình cũng bao gồm việc thông báo cho những người dùng mạng về các thay đổi cấu hình sắp tới và đã hoàn tất. - Quản lý kế toán: chức năng này bao gồm khả năng theo dõi việc sử dụng mạng để phát hiện những khiếm khuyết, việc lạm dụng các đẵ quyền mạng hoặc hoạt động mạng khác thường. Tất cả hữu dụng với việc hoạch định các thay đổi hoặc sự phát triển của mạng. - Quản lý hiệu suất: tính năng này bào gồm khả năng nhận biết những vấn đề hiệu suất hiện hành sắp tới vốn có thể gây ra các vấn đề cho người dùng mạng.
Những hoạt động bao gồm thu thập và phân tích số lượng thống kê để sát định hiệu suất mạng đường mốc cũng như giám sát hệ thống và thực hiện việc bảo trì nhằm đảm bảo hiệu suất mang có thể chấp nhận được. - Quản lý bảo mật: chức năng này bao gồm việc kiểm soát và giám sát sự truy cập đến mạng và thông và thông tin quản lý mạng cso liên quan. Điều này thường bao gồm việc kiểm soát các password và những cơ chế ủy quyền người dùng, thu thập và phân tích các nhật ký bảo mật hoặc nhật ký truy cập để phát hiện ra hoạt động đáng nghi ngờ và theo dõi dưới nguồn gốc của nó. Về mặt lý tưởng những chức năng này và những chức năng khác nên có sẵn từ cùng một giao diện quản lý mạng vốn xử lý toàn bộ mạng như một thực thể.
Tuy nhiên, trên thực tế, các NMS khác nhau về tính phức tạp, buộc các tổ chức phải phụ thuộc vào những công cụ khác nhau từ các hãng khác nhau để có được 6 tất cả các chức năng mà họ cần nhằm quản lý mạng của họ một cách phù hợp.3 Giới thiệu về giao thức SNMP SNMP (Simple Network Management Protocol) là một giao thức quản lý mạng tiêu chuẩn được sử dụng rộng rãi để giám sát và quản lý các thiết bị mạng. Nó cung cấp một cách tiêu chuẩn để thu thập thông tin, giám sát trạng thái, và thực hiện các thao tác quản lý trên các thiết bị mạng như máy chủ, router, switch, và thiết bị mạng khác. SNMP cho phép người quản trị mạng có khả năng giám sát và điều khiển mạng từ xa, cung cấp một cơ sở cho việc quản lý hiệu quả hệ thống mạng. Giao thức SNMP hoạt động dựa trên mô hình quản lý-hạt nhân, trong đó có ba thành phần chính: Quản lý trạm (SNMP Manager), SNMP Agent và MIB (Management Information Base).
- Quản lý trạm (SNMP Manager): Quản lý trạm là một thiết bị hoặc phần mềm đóng vai trò là trung tâm điều khiển trong hệ thống quản lý SNMP. Nó có khả năng thu thập thông tin từ các thiết bị mạng và thực hiện các thao tác quản lý như yêu cầu thông tin (GET), thiết lập thông tin (SET), yêu cầu thông báo (GET-NEXT, GET-BULK), và nhận thông báo từ các thiết bị mạng (TRAP). Quản lý trạm cũng có khả năng xử lý và phân tích thông tin thu thập được từ các SNMP Agent. SNMP Agent: SNMP Agent là một thành phần phần mềm hoặc phần cứng được cài đặt trên các thiết bị mạng để giám sát và quản lý các thông tin liên quan đến trạng thái và hoạt động của thiết bị đó.
Agent lắng nghe và xử lý các yêu cầu từ SNMP Manager và gửi các thông báo (traps) tới SNMP Manager khi có sự kiện quan trọng xảy ra. Agent cung cấp một giao diện truy cập vào các thông tin quản lý thông qua MIB. - MIB (Management Information Base): MIB là một cơ sở dữ liệu được định nghĩa bằng ngôn ngữ ASN.1 (Abstract Syntax Notation One) và chứa các thông tin mô tả về các đối tượng quản lý trong mạng. Mỗi thiết bị mạng có một MIB riêng, được định nghĩa bởi nhà cung cấp thiết bị.
MIB chứa các thông tin như tên, định danh (OID - Object Identifier), trạng thái, giá trị, và mô tả chi tiết về các thuộc tính và tính năng của các đối tượng quản lý trong mạng. SNMP Manager sử dụng MIB để xác định các thông tin cần thu thập và quản lý từ SNMP Agent. Các hoạt động chính của SNMP bao gồm: - Yêu cầu thông tin (GET): SNMP Manager gửi yêu cầu GET tới SNMP Agent để lấy thông tin về một đối tượng quản lý cụ thể. 7 - Thiết lập thông tin (SET): SNMP Manager gửi yêu cầu SET tới SNMP Agent để thay đổi giá trị của một đối tượng quản lý.
- Yêu cầu thông báo (GET-NEXT, GET-BULK): SNMP Manager gửi các yêu cầu GET-NEXT hoặc GET-BULK để lấy thông tin liên quan đến các đối tượng tiếp theo trong MIB. - Thông báo (TRAP): SNMP Agent gửi thông báo TRAP tới SNMP Manager khi có sự kiện quan trọng xảy ra trong thiết bị, như lỗi, cảnh báo hoặc sự thay đổi trạng thái. Giao thức SNMP sử dụng cơ chế UDP/IP để truyền tải dữ liệu qua mạng. Nó sử dụng các giao thức trong lớp vận chuyển và lớp mạng của mô hình TCP/IP để đảm bảo việc truyền thông tin tin cậy và hiệu quả.
Một số ưu điểm của SNMP bao gồm: - Giao thức tiêu chuẩn: SNMP là một giao thức tiêu chuẩn được chấp nhận rộng rãi và hỗ trợ bởi hầu hết các nhà cung cấp thiết bị mạng. - Tương thích đa nền tảng: SNMP hoạt động trên nhiều hệ điều hành và nền tảng mạng khác nhau, cho phép quản lý mạng được thực hiện từ một điểm tập trung. - Khả năng mở rộng: SNMP hỗ trợ khả năng mở rộng, cho phép thêm các đối tượng quản lý và chức năng mở rộng theo yêu cầu của mạng. - Tiết kiệm băng thông: SNMP sử dụng giao thức UDP/IP, nên không tạo ra gánh nặng lớn cho mạng.
Quản lý từ xa: SNMP cho phép người quản trị mạng giám sát và điều khiển mạng từ xa, giúp tiết kiệm thời gian và công sức. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng SNMP có một số hạn chế, bao gồm an ninh yếu, không hỗ trợ một số tính năng nâng cao và khả năng phản hồi chậm đối với các mạng lớn. 8 CHƯƠNG II: CÀI ĐẶT WINDOWS SERVER 2016 VÀ MÔ PHỎNG CÁC DỊCH VỤ MẠNG 2.1 Cài đặt DNS, ADDS phân giải tên miền Dịch vụ DNS (Domain Name System) là một hệ thống quản lý tên miền được sử dụng để ánh xạ các tên miền như example.com thành địa chỉ IP như 192. Nó giúp máy tính và các thiết bị kết nối với Internet có thể tìm kiếm và truy cập các tài nguyên mạng bằng cách sử dụng tên miền dễ nhớ thay vì phải nhớ các địa chỉ IP dài và phức tạp.
Dịch vụ DNS hoạt động dựa trên mô hình client-server, trong đó có các thành phần chính sau: Client: Là máy tính hoặc thiết bị yêu cầu dịch vụ DNS để tìm kiếm và ánh xạ tên miền thành địa chỉ IP. Client có thể là trình duyệt web, ứng dụng di động hoặc bất kỳ thiết bị nào khác muốn truy cập vào mạng Internet. Resolver: Là một phần mềm hoặc thành phần trong hệ điều hành của client, nhiệm vụ của resolver là gửi yêu cầu DNS từ client đến máy chủ DNS và nhận kết quả trả về. DNS Server: Là các máy chủ chứa thông tin về tên miền và địa chỉ IP tương ứng.
DNS server được phân thành các loại khác nhau, bao gồm: Recursive DNS Server: Nhận yêu cầu từ resolver và tìm kiếm thông tin tên miền trong hệ thống DNS. Nếu thông tin không tồn tại trong bộ nhớ cache của nó, nó sẽ gửi yêu cầu đến DNS Root Server để tìm kiếm thông tin tên miền và tiếp tục truy vấn các máy chủ DNS phía trên cho đến khi tìm thấy thông tin cần thiết và trả về kết quả cho resolver. Authoritative DNS Server: Là máy chủ DNS có trách nhiệm cung cấp thông tin cụ thể về tên miền cụ thể.