Chương 1. Những vẫn đề lý luận và pháp luật về định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN. Thực tiễn định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN tại thành phố Hải Phòng. Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN.
CHUONG 1 NHUNG VAN DE LY LUAN VA PHAP LUAT VE DINH TOI DANH DOI VOI TOI IN, PHAT HANH, MUA BAN TRAI PHEP HOA DON, CHUNG TU THU NOP NGAN SACH NHA NUOC 1. Khái niệm, ý nghĩa của định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước 1. Khái niệm định tội danh dối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước 1. Khái niệm tội in, phát hành, mua bán trải phép hóa đơn, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước Trước khi đề cập đến khái niệm tội ¡n, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước, thì cần làm sáng tỏ khái niệm hóa đơn, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước.
Trong quá trình xuất kinh doanh và phân phối phẩm hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân, hóa đơn xuất hiện phổ biến như một bằng chứng chứng minh giao dịch mua bán cũng như đảm bảo quyền lợi của các bên trong giao dịch. Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng thì: “Hóa đơn là giấy người bán dua cho người mua hàng để là bằng chứng đã trả tiền” [25, tr. 472] mà cụ thể hơn đó là “giấy ghỉ các chỉ số như: tên người mua hàng, loại hàng bán ra, giá tiên dé làm chứng từ” [2, tr. Dưới góc độ pháp lý chuyên ngành, hóa đơn được hiểu là: Chứng từ được ¡in sẵn thành mẫu, in từ máy tính tiền, in thành vé có mệnh giá theo quy định của Nhà nước, xác nhận khối lượng, giả trị của hàng hoá, dịch vụ mua, bán, trao đôi, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch mua, bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ [7, Điều 3, Khoản 1].
Tuy nhiên, để phản ánh đúng hơn về bản chất của hóa đơn trong nền kinh tế thị trường thì khái niệm về hóa đơn đã có sự thay đổi, theo đó “Hóa đơn là chứng từ do người bán lập, ghi nhận thông tin bán hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật” [§, Điều 3, Khoản 1]. Hiện nay, khái niệm về hóa đơn theo quy định pháp luật về thuế có sửa đổi như sau: “Hóa đơn là chứng từ kế toán do tổ chức, cá nhân bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ lập, ghi nhận thông tin bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ theo quy định của luật kế toán ” [3, Điều 3, Khoản 1]. Hóa đơn có liên quan đến chứng từ thu nộp thuế nói riêng và chứng từ thu nộp NSNN nói chung. Chứng từ thu nộp NSNN có thê hiểu là “các chứng từ liên quan đến toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phí; toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, trường hợp được khoán chỉ phí hoạt động thì được khẩu trừ; các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện nộp NSNN theo quy định của pháp luật; các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam và chính quyển địa phương”.
Hóa đơn là chứng từ, chứng từ thu nộp NSNN nói chung, chứng từ thu nộp thuế nói riêng cũng là chứng từ được in, phát hành, quản lý, sử dụng theo quy định của Luật thuế, Luật quản lý thuế và các văn bản quy phạm pháp luật khác dùng để quản lý thu thuế cho NSNN. Hóa đơn vừa là chứng từ dùng làm cơ sở ban đầu cho việc kê khai, khấu trừ, hạch toán chi phí, xác định chỉ phí thuế, hoàn thuế vừa là cơ sở cho viện thanh tra, kiểm tra của Cơ quan thuế đối với tình hình hoạt động xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhằm xác định chính xác nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, qua đó kịp thời phát hiện ra những trường hợp gian lận thuế, trồn thuế, chiếm đoạt thuế của các đối tượng liên quan bằng cách lợi dụng những chính sách này để thực hiện các hành vi in, phát hành, mua bán 10 trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN. Hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN bao gồm: Hóa đơn xuất khẩu dùng trong hoạt động kinh doanh xuất khâu hàng hóa, dịch vụ ra nước ngoài, xuất khẩu vào khu ph thuế quan; hóa đơn gia tri gia tang; hoa đơn bán hàng hóa, dịch vụ nội địa dành cho các tô chức, cá nhân khai thuế giá trị gia tăng; các hoá đơn khác gồm: tem, vé, thẻ, phiếu thu tiền bảo hiểm,. và phiếu thu tiền cước vận chuyển hàng không; chứng từ thu cước phí vận tải quốc tế, chứng từ thu phí dịch vụ ngân hàng; Lệnh thu nộp NSNN, giấy nộp tiền vào NSNN, bảng kê nộp thuế, biên lai thu NSNN và chứng từ phục hồi trong quản lý thu NSNN [4, Điều 2, Khoản I].
Hiện này tội in, phát hành, mua bán trái phép hoá đơn, chứng từ thu nộp NSNN được quy định tại Điều 203 BLHS năm 2015, qua đó, tác giả nhận thức được khái niệm về tội này như sau: lội in, phát hành, mua bản trải phép hoá đơn, chứng từ thu nộp NSNN được hiểu là hành vi in, phát hành, mua bán hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN ở dạng phô từ 50 số đến dưới 100 số hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 10 số đến dưới 30 số hoặc thu lợi bắt chính từ 30.000 đồng đến dưới 100. Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN 1a hành vi trái pháp luật, được thực hiện một cách cố ý bởi cá nhân hoặc pháp nhân thương mại trong, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của nhà nước, thê hiện bằng việc In, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn chứng từ, thu nộp NSNN được quy định trong Bộ luật Hình sự mà theo quy định phải bị xử lý hình sự. Khái niệm định tội danh đổi với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp Ngân sách Nhà nước Được xem là hoạt động áp dụng pháp luật, định tội danh là một giai đoạn cơ bản trong nội dung của quá trình áp dụng pháp luật nhằm xác định 11 hành vi nguy hiểm cho xã hội trên thực tế đã thỏa mãn những yếu tổ cấu thành loại tội tương ứng nào được quy định trong BLHS. Hiện nghiên cứu về vấn đề này, có nhiều quan điểm khác nhau của học giả đưa ra khái niệm về định tội danh.
Lê Cảm quan niệm: Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiễn hành trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP tương ứng do LHS quy định, nhằm đạt được sự thật khách quan, tức là đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc cá thể hóa và phân hóa TNHS một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật [ó, tr. TS Lê Văn Đệ thì cho rằng: Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện bởi các dấu hiệu của CTTP được pháp luật hình sự quy định [11, tr. TS V6 Khanh Vinh dua ra dinh nghia: Dinh tội danh là một dạng hoạt động nhận thức, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nhằm đi tới chân lí khách quan được thực hiện, nhận thức đúng nội dung quy phạm pháp luật hình sự quy định CTTP tương ứng và mối liên hệ tương đồng giữa các dấu hiệu CTTP với các tình tiết cu thé của hành vi phạm tội băng các phương pháp và thông qua giai đoạn nhất định [24, tr. 12 Mặc dù cách diễn đạt khác nhau nhưng có thể nhận thấy điểm chung thống nhất trong quan điểm của các nhà nghiên cứu là ghi nhận định tội danh là việc xác định về mặt pháp lý hình sự đối với hành vi phạm tội đã xảy ra trong thực tẾ, hay nói cách khác là xác định xem các dấu hiệu trong CTTP tương ứng được quy định trong BLHS.
Từ sự phân tích trên có thể hiểu: “Định tội danh chính là việc nhận thức, áp dụng pháp luật hình sự được thực hiện trên cơ sở xác định đây đủ, chính xác, khách quan các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội đã thực hiện với các dấu hiệu của cấu hình tội phạm tương ứng được quy định trong Bộ luật Hình sự”. Định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN là một trường hợp cụ thê của định tội danh nói chung. Từ quan nệm về định tội danh nói trên, có thể hiểu định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN là việc xác định sự phù hợp của hành vi in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN đã thực hiện trên thực tế với những dấu hiệu CTTP của tội In, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN được quy định trọng BLHS. Nếu các tình tiết thực tế của một hành vi phạm tội có phù hợp với dấu hiệu của CTTP được quy định cụ thể tại điều 203 của BLHS thì hành vi đó được xác định theo tội danh của cấu thành tội phạm in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN.
Từ sự phân tích trên có thể xây dựng khái niệm: Định tội danh đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vì phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định tại Diéu 203 BLHS năm 2015.