Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA ĐỊNH TỘI DANH TỘI HIẾP DÂM NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Khái niệm định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Để có thể cụ thể hóa các quy định trừu tượng của pháp luật vào trong thực tế đời sống cần có một quá trình nhất định.
Quá trình này diễn ra từ đơn giản đến phức tạp và được thực hiện bằng nhiều hoạt động áp dụng pháp luật khác nhau: xác định dấu hiệu của tội phạm, điều tra, định tội danh, xem xét miễn, giảm trách nhiệm hình sự…Trong đó, định tội danh được xem là một hoạt động thực tiễn rất quan trọng của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Bởi lẽ việc định tội danh được xem như “mạch dẫn đầu tiên” trong quá trình giải quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Việc định tội danh đúng đắn tạo tiền đề đảm bảo cho việc quyết định hình phạt, giải quyết vụ án được đúng người đúng tội, tránh bỏ lọt tội phạm và tránh làm oan sai người vô tội. Tuy nhiên, khái niệm định tội danh vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất giữa các chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật hình sự.
Lê Cảm thì “Định tội danh là quá trình nhận thức lý luận có tính logic, là dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến hành trên cơ sở các chứng cứ các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng do luật hình sự quy định nhằm đạt được sự thật khách quan, tức là đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình 11 n sự, làm tiền đề cho việc cá thể hóa và phân hóa trách nhiệm hình sự một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật.716] Theo quan điểm này, định tội danh được xác định là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, là một dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật, là quá trình mà các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành so sánh, đối chiếu để tìm ra sự tương đồng giữa hành vi phạm tội được thực hiện với cấu thành tội phạm trong Bộ luật hình sự dựa trên các chứng cứ, tài liệu, các tình tiết khách quan khác của vụ án. Theo Viện sỹ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô cũ (Liên bang Nga hiện nay) Kudriavtxev V.N “Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm do quy phạm pháp luật hình sự quy định”. Quan điểm này cho rằng định tội danh là việc xác định sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định trong phần tội phạm của Bộ luật hình sự. Quan điểm này chỉ đơn thuần nhìn nhận định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp giữa các dấu hiệu pháp lý của hành vi phạm tội với quy định của pháp luật, không nhìn nhận định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic.TS Võ Khánh Vinh, ĐTD là một dạng hoạt động nhận thức, hoạt động áp dụng PLHS nhằm đi tới chân lý khách quan trên cơ sở xác định đúng đắn, đầy đủ các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội được thực hiện, nhận thức đúng nội dung quy phạm PLHS quy định CTTP tương ứng và mối liên hệ tương đồng giữa các dấu hiệu của CTTP với các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội bằng các phương pháp và thông qua các giai đoạn nhất định.
Theo quan điểm này thì hoạt động ĐTD không chỉ là quá trình đánh giá về mặt pháp lý hình sự mà còn là một quá trình nhận thức và không phải chỉ do cơ quan THTT thực hiện. 12 n Theo TS Dương Tuyết Miên, ĐTD là hoạt động thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan Điều tra, VKS, TA) và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để xác định một người có phạm tội hay không, nếu có phạm tội thì tội đó là gì? Theo điều luật nào của BLHS hay nói cách khác đây là quá trình xác ĐTD cho hành vi nguy hiểm cho xã hội. Theo quan điểm của chuyên gia này, “Định tội danh” được đặc trưng là quá trình đánh giá về mặt pháp lý hình sự của các cơ quan THTT về một hành vi cụ thể xem có đầy đủ các yếu tố CTTP không? Trên cơ sở nghiên cứu tiếp thu các quan điểm nêu trên, học viên có thể khái quát về ĐTD với các đặc điểm sau: - ĐTD là một quá trình nhận thức một cách logic cũng như áp dụng PLHS và tố TTHS vào thực tế. - ĐTD là quá trình tìm hiểu, đánh giá hành vi trên thực tế với các dấu hiệu của CTTP trong BLHS.
- Cơ sở của việc “ĐTD” là CTTP cụ thể trong BLHS. - ĐTD là một giai đoạn quan trọng, là tiền đề cho các giai đoạn của TTHS cũng như việc cá thể và phân hóa TNHS. Tổng hợp các ý kiến trên cùng với việc nghiên cứu thực tiễn áp dụng, tác giả đưa ra khái niệm về định tội danh như sau: Định tội danh được xem là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, là một dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự được tiến hành trên cơ sở thu thập chứng cứ, tài liệu cũng như các tình tiết khách quan khác trong vụ án hình sự, từ đó so sánh, đối chiếu và kiểm tra nhằm xác định sự phù hợp (tương đồng) giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội được thực hiện với các cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng do luật hình sự quy định. Từ khái niệm trên, có thể rút ra được khái niệm định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi như sau: “Định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, là một dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự được tiến hành trên cơ sở thu thập 13 n chứng cứ, tài liệu, các tình tiết khách quan của vụ án để so sánh, đối chiếu, kiểm tra nhằm xác định sự phù hợp (tương đồng) giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các cấu thành tội phạm của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.
Đặc điểm định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Từ nội dung của khái niệm về định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi nêu trên chúng ta có thể nhận thấy được vấn đề định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi có những đặc điểm như sau: Thứ nhất, định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, được tiến hành bởi cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Tính logic được hiểu là việc các cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động xem xét, phân tích, đánh giá, so sánh, đối chiếu với các dấu hiệu cấu thành tội phạm của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi để xác định xem hành vi phạm tội có cấu thành Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi không. Tất cả các hoạt động trên phải được thực hiện theo một trình tự chặt chẽ, kết quả của hoạt động trước là tiền đề của hoạt động tiếp theo và cuối cùng là xâu chuỗi các vấn đề đã nghiên cứu để đưa ra kết luận cuối cùng.
Thứ hai, định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là một dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật. Hoạt động định tội danh sẽ tiến hành áp dụng những quy định của Bộ luật hình sự lên những hành vi phạm tội cụ thể, những quy định của pháp luật không còn là lý thuyết xa vời mà được cụ thể hóa vào trong một tình huống cụ thể và được áp dụng lên một cá nhân thực hiện hành vi phạm tội, nhằm mục đích răn đe, giáo dục người phạm tội để duy trì trật tự xã hội. Thứ ba, hoạt động định tội danh Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi được tiến hành trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu thu thập được và các tình tiết khách 14 n quan khác của vụ án. Như đã đề cập, hoạt động định tội danh có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc giải quyết vụ án hình sự, định tội danh đúng sẽ giúp cho hoạt động xét xử được đúng đắn, đúng người đúng tội, tránh bỏ lọt tội phạm và tránh làm oan sai người vô tội.
Với ý nghĩa quan trọng như vậy, hoạt động định tội danh đòi hỏi người tiến hành định tội danh phải thật tỉ mĩ và nhạy bén, bởi lẽ một hành vi nguy hiểm cho xã hội có thể cấu thành nhiều tội phạm khác nhau (Tội hiếp dâm trẻ em, Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi) vấn đề đặt ra ở đây là tội danh nào sẽ là phù hợp nhất với hành vi nguy hiểm đã thực hiện. Và để đạt được điều này, người tiến hành định tội danh phải dựa vào những chứng cứ, tài liệu thu thập được từ thực tế khách quan liên quan đến vụ án, những hoạt động thu thập này phải được tiến hành theo trình tự thủ tục được pháp luật quy định. Đặc điểm này thể hiện rất rõ tính pháp chế trong pháp luật hình sự, một người chỉ bị kết tội khi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chứng minh được hành vi của họ thỏa mãn các dấu hiệu được quy định trong Bộ luật hình sự và các bằng chứng dùng để buộc tội phải được thu thập từ thực tế khách quan được tiến hành theo trình tự, thủ tục mà pháp luật đã quy định.