Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về định kiến đối với người đồng tính Chương 2: Lý luận về định kiến đối với người đồng tính Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn định kiến của sinh viên đối với người đồng tính. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỊNH KIẾN ĐỐI VỚI NGƢỜI ĐỒNG TÍNH 1. Các nghiên cứu về định kiến và định kiến đối với ngƣời đồng tính ở nƣớc ngoài 1.
Nghiên cứu về định kiến Định kiến là hiện tượng tâm lý xã hội đặc trưng và tồn tại ở các nền văn hóa khác nhau ở khắp các quốc gia trên thế giới. Hiện tượng này được rất nhiều các nhà tâm lý học nghiên cứu với nhiều hướng tiếp cận khác nhau trên các nhóm khách thể khác nhau nhằm tìm hiểu nguồn gốc hình thành, mức độ cũng như những cách thức làm giảm thiểu định kiến. Có thể khái quát lại thành các hướng nghiên cứu sau: Hướng nghiên cứu thứ nhất, xem định kiến như là kết quả cá nhân học hỏi và tiếp thu các tác động từ phía xã hội trong quá trình xã hội hóa. Định kiến xã hội được bắt nguồn từ chính quá trình xã hội hóa của cá nhân.
Thuyết học tập xã hội (Social learning theory) của Albert Bandura (1977) dựa trên các thực nghiệm khách quan đã chứng minh rằng môi trường sống có ảnh hưởng đến hành vi của con người. Ông đồng ý rằng có thể điều chỉnh hành vi của con người thông qua củng cố (cả tích cực cũng như tiêu cực) song không nhất thiết lúc nào cũng cần tiến hành củng cố theo công thức Kích thích - Phản ứng. Con người cũng có thể chủ động học tập thông qua quan sát hành vi của người khác cũng như kết quả của những hành vi đó (dẫn theo Phan Trọng Ngọ, Nguyễn Đức Hưởng, 2003). Thuyết học tập xã hội theo quan điểm của Bandura giải thích cho sự hình thành định kiến ở cá nhân trong mối quan hệ của ba quá trình học tập đó là: dạy dỗ trực tiếp (Direct Teaching), học tập qua quan sát (observational learning) và học tập gián tiếp (vicarious learning).
Sự dạy dỗ trực tiếp diễn ra khi một cá nhân được khen thưởng vì đã có hành vi ứng xử theo một cách nhất định. Các nhà tâm lý học cũng chỉ ra rằng nhà trường chính là một kênh quan trọng hình thành nên định kiến xã hội ở trẻ em thông qua phương tiện sách giáo khoa. Kết quả cho thấy chính sự nhấn mạnh của tác giả khi trình bày về đất nước Thụy Sĩ đã làm cho 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com học sinh Pháp định kiến về đất nước này. Có thể nói những kiến thức một chiều, thiếu cập nhật trong chương trình học ở nhà trường đã góp phần tạo ra định kiến ở trẻ em (dẫn theo Fischer, 1992).
Trong quá trình xã hội hóa, ảnh hưởng của các nhóm xã hội lại góp phần củng cố những định kiến đã hình thành, khiến chúng trở nên vững chắc hơn. Các phương tiện truyền thông bao gồm phim, truyện, tranh ảnh, truyền hình và các chương trình quảng cáo cũng được xem là một kênh quan trọng trong việc hình thành định kiến. Phân tích của tác giả Shaheen (2003) với trên 900 bộ phim do Hollywood sản xuất cho thấy hình ảnh người Ả Rập luôn bị miêu tả là nhẫn tâm, tàn bạo, thiếu văn minh và cuồng tín tôn giáo. Những bộ phim này cũng chuyển tải những thông điệp không chính xác rằng tất cả người Ả Rập là tín đồ Hồi giáo và tất cả tín đồ Hồi giáo đều là người Ả Rập (Whiley & Kite, 2010).
Như vậy, sự thiên lệch trong cách đưa tin qua các phương tiện truyền thông, dù vô tình hay hữu ý có thể tạo ra và củng cố những khuôn mẫu tiêu cực ở cá nhân và phát triển thành định kiến trong xã hội. Thuật ngữ khuôn mẫu hay còn gọi là định khuôn lần đầu tiên được Lippman (1922) - đưa ra nhằm “chỉ các phạm trù mô tả được đơn giản hóa mà chúng ta tìm cách đặt cho người khác hay các nhóm cá nhân vào đó” (dẫn theo Fischer, 1992, tr.147) và khuôn mẫu được xem là “những hình ảnh ở trong đầu chúng ta” (Rupert Brown, 2010, tr. Nguyên nhân hình thành khuôn mẫu là do con người thường sử dụng lối tắt (shortcut) trong suy nghĩ của mình. Việc sử dụng lối tắt như vậy giúp họ tiết kiệm năng lượng và dễ dàng đánh giá đối tượng trong quá trình tiếp xúc (dù là lần đầu tiên).
Khi có quá ít thông tin về người khác hay cảm thấy mệt mỏi, con người cũng phản ứng dựa trên những khuôn mẫu có sẵn vì nó giúp rút ngắn thời gian nhận thức bằng cách đưa ra một hình ảnh giản ước về đối tượng (Knud S. Larsen & Lê Văn Hảo, 2010). Như vậy, khuôn mẫu chính là sơ đồ nhận thức (cognition schemas) được con người sử dụng để xử lý thông tin về những người khác (John F. Dovidio, Miles Hewstone, Peter Glick, Victoria M.
Các cá nhân thường có khuynh hướng lựa chọn thông tin phù hợp với khuôn mẫu, những thông tin mong đợi sẽ được xử lý nhanh hơn và ghi nhớ lâu hơn; còn những thông tin không phù hợp sẽ bị loại bỏ. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khuôn mẫu ảnh hưởng đến cách con người diễn giải thông tin về người khác. Để chứng minh luận điểm này, các nhà tâm lý học xã hội đã tiến hành nhiều thực nghiệm có sử dụng trò chơi điện tử. Trong khoảng thời gian dưới một giây, nghiệm thể phải xác định thật nhanh mục tiêu xuất hiện trên màn hình máy tính (có thể là hình ảnh người da trắng hoặc da đen) và nhấn nút “bắn” nếu như đối tượng có vũ khí và nhấn nút “không bắn” nếu đối tượng không có vũ khí.
Qua bốn lần tiến hành thực nghiệm kết quả thu được như sau: thời gian phản ứng của các nghiệm thể là tương quan với định kiến chủng tộc (Joshu Correll, Bernadette Park, Charles M. Judd, Bernd Wittenbrink, 2002). Hướng nghiên cứu thứ hai, xem định kiến như là đặc điểm thuộc về nhân cách cá nhân. Freud (1856 - 1939) cho rằng các định kiến được nảy sinh từ những động cơ sâu xa bên trong của con người.
Theo ông, tất cả mọi người khi sinh ra đều có bản năng sống (Eros) và bản năng chết (Thanatos). Bản năng sống là động lực thúc đẩy con người hoạt động để duy trì sự sống của bản thân, có liên quan đến các nhu cầu sinh học của con người như ăn, ở, mặc và nhu cầu tình dục (libido). Còn bản năng chết sinh ra hướng đến việc phá bỏ, tiêu diệt cuộc sống, nó chống lại bản thân và đồng thời chống lại cả thế giới bên ngoài. Chính sự đối lập giữa bản năng chết với nguồn năng lượng duy trì sự sống (bản năng tính dục) đã dẫn cá nhân đến những hành động phá hoại, cực đoan.
Freud đã mở rộng quan niệm của mình khi xem xã hội là sự phản ánh những đặc điểm tâm lý cá nhân hợp thành, coi chiến tranh và định kiến như là những biểu hiện của năng lượng phá hoại (dẫn theo Nicky Hayes, 2005). John Duckitt (2001) phát triển mô hình tiến trình kép của định kiến ảnh hưởng bởi nhân cách (A dual-process model of personality influenced prejudice) với lập luận chủ nghĩa chuyên chế và khuynh hướng thống trị xã hội (social dominance orientation) được hình thành dựa trên quá trình xã hội hóa và ảnh hưởng của nhân cách sẽ dẫn đến những biểu hiện khác nhau của định kiến. Mô hình này đã sơ đồ hóa và mô tả một tiến trình kép gồm 5 bước tạo thành định kiến. Tiến trình thứ nhất diễn ra như sau: cá nhân được sinh ra trong gia đình có cha mẹ nghiêm 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khắc hoặc hay dùng hình phạt sẽ phát triển mạnh nhu cầu phục tùng (conformity) đối với người có quyền lực và quy tắc xã hội.
Nhu cầu này có mối quan hệ với trật tự xã hội nên họ dễ nhạy cảm với bất kỳ điều gì có thể đe dọa trật tự xã hội và có xu hướng đánh giá sự đa dạng của xã hội như là mối nguy hiểm. Nhu cầu phục tùng xã hội cộng với niềm tin xã hội đầy rẫy sự đe dọa đã làm nảy sinh định kiến với những nhóm ngoại được nhìn nhận như mối đe dọa với trật tự xã hội. Ngược lại, tiến trình thứ hai diễn ra theo hướng: trẻ em được nuôi dưỡng trong gia đình lạnh lùng và thiếu tình cảm sẽ hình thành tính cương quyết, dẫn đến niềm tin rằng xã hội mang tính tàn nhẫn và cạnh tranh. Xã hội này ngày càng gia tăng tham vọng quyền lực, thống trị xã hội và cạnh tranh.
Chính cách nhìn nhận này đã làm gia tăng tham vọng quyền lực, thống trị xã hội và kết quả là tạo ra định kiến đối với các nhóm có địa vị thấp kém (dẫn theo Stephen Franzoi, 2005). Như vậy, có thể thấy ẩn bên dưới chủ nghĩa chuyên chế và khuynh hướng thống trị xã hội là hai nét nhân cách: phục tùng xã hội và tính cương quyết. Hướng nghiên cứu xem định kiến như là đặc điểm thuộc về nhân cách cá nhân được phổ biến trong một thời gian dài, tuy nhiên trong sự phát triển của lịch sử khoa học tâm lý đã chứng minh rằng quá trình hình thành định kiến phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố khác nhau, đặc biệt là yếu tố văn hóa, tín ngưỡng - tôn giáo, mối quan hệ tương tác, khoảng cách xã hội của cá nhân với nhóm và giữa các nhóm với nhau. Hướng nghiên cứu thứ ba, lập luận và tìm hiểu định kiến liên quan đến nguồn gốc, bản chất cũng như cách giảm thiểu định kiến.
Gordon Allport (1954) trong tác phẩm “Bản chất của định kiến” cho rằng định kiến là một phần tự nhiên trong hoạt động của con người. Về mặt nhận thức, con người có xu hướng phân chia xã hội thành các nhóm dựa trên những đặc điểm chung và riêng biệt, tức là coi những người khác hoặc thuộc về nhóm của mình (nhóm nội) hoặc thuộc về nhóm bên ngoài (nhóm ngoại). Sự phân loại này dựa trên một số tiêu chí như chủng tộc, tôn giáo, giới tính, nghề nghiệp, độ tuổi, dân tộc… Sự phân loại xã hội thường dẫn tới hệ quả là tạo ra các hiệu ứng đồng nhất nhóm ngoại và thiên vị nhóm nội. Hiệu ứng đồng nhất nhóm ngoại đề cập đến xu hướng 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com con người nhìn nhận các thành viên của nhóm khác đều như nhau trong khi nhìn các thành viên trong nhóm của mình có sự khác nhau và đa dạng hơn.