CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm định giá tài sản trong thi hành án dân sự Định giá nói chung là hoạt động chuyên môn vừa mang tính kinh tế kỹ thuật, tính pháp lý, vừa mang tính xã hội. Hoạt động định giá hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự hình thành, tồn tại và phát triển của thị trường. Định giá tài sản là hình thức phân tích kinh tế ứng dụng.
Định giá tài sản được một số tác giả định nghĩa như sau: Theo Từ điển Tiếng Việt: Định giá là quy định về giá cả các mặt hàng. Định giá là sự ước tính về giá trị của các quyền sở hữu tài sản cụ thể bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích đã được xác định (GS.W Sealrooke – viện đại học Portsmouth – Vương quốc Anh). Định giá là một khoa học về ước tính giá trị cho một mục đích cụ thể của một tài sản cụ thể, tại một thời điểm xác định, có cân nhắc đến tất cả các đặc điểm của tài sản cũng như xem xét tất cả các yếu tố kinh tế căn bản của thị trường, bao gồm các loại đầu tư lựa chọn.Lim Lan Yaun – khoa xây dựng và bất động sản – đại học quốc gia Singapore). Theo khoản 5 Điều 9 Luật giá năm 2012 quy đinh: Định giá là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh quy định giá cho hàng hóa, dịch vụ.
Theo tác giả Nguyễn Văn Trong (2010), Giáo trình định giá tài sản, Trường Đại học kinh doanh và công nghệ Hà Nội-Khoa Tài chính, tr.5, thì định giá tài sản là ước tính giá trị của các quyền sở hữu tài sản bằng hình thái tiền tệ phù hợp với một thị trường, tại một thời điểm, theo những tiêu chuẩn cho mục đích nhất định. Có nhiều quan điểm về khái niệm định giá như đã nêu trên, tác giả thống nhất với khái niệm định giá của tác giả Nguyễn Văn Trong vì những lý do cụ thể như sau: Khái niệm của tác giả Nguyễn Văn Trong thể hiện đầy đủ nhất, đúng bản chất của hoạt động định giá tài sản trong thi hành án dân sự đó là sự ước tính giá trị 8 Luan van của tài sản bằng một hình thái tiền tệ nhất định phù hợp với thị trường, tại một thời điểm nhất định, tuân thủ các tiêu chuẩn về định giá tài sản theo quy định của pháp luật và nhằm một mục đích nhất định. Trong thi hành án dân sự, mục đích của việc định giá đó là nhằm xác định giá khởi điểm của tài sản để đưa ra bán đấu giá, thu phí thi hành án, đương sự phân chia tài sản. Thi hành án dân sự là khâu quan trọng, đảm bảo cho các bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực được thi hành trên thực tế.
Về mặt thuật ngữ “thi hành án”, theo Từ điển pháp luật phổ thông (2009), NXB Giáo dục Việt Nam, tr.596 “Thi hành án dân sự là khâu quan trọng, đảm bảo cho các bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực được thi hành trên thực tế. Trong khoa học pháp lý, hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về thi hành án dân sự. Cũng theo từ điển này, “thi hành án” là “giai đoạn kết thúc trình tự tố tụng và khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử nhằm làm cho các phán quyết của Tòa án nhất định có hiệu lực pháp luật”. Theo Từ điển luật học (1999), NXB Bách Khoa, Hà Nội, tr.464, thi hành án là “giai đoạn kết thúc trình tự tố tụng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử nhằm làm cho các phán quyết của Tòa án nhất định có hiệu lực pháp luật.
Vì vậy, bản án sau khi có hiệu lực thi hành án phải được thi hành nghiêm chỉnh. Trong khoa học pháp lý, hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về thi hành án dân sự. Theo tác giả Lê Minh Tâm(2001), “Thử bàn mấy vấn đề lý luận về thi hành án”, Tạp chí Luật học, (2), tr.21,26: “Thi hành án (đặc biệt là thi hành án dân sự) không phải là giai đoạn của tố tụng, bởi vì thi hành án có mục đích khác với mục đích tố tụng. Tác giả Lê Minh Tâm cho rằng: Thi hành án là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện các bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Vì vậy, có thể nói một cách hình ảnh rằng “tố tụng là quá trình đi tìm chân lý để áp dụng công lý (pháp luật), còn thi hành án là quá trình thực thi chân lý bằng công lý. Ở đây chân lý đã rõ, có tội hay vô tội, đúng hay sai đã được phân xử rõ ràng, thi hành án chỉ nhằm thực hiện các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật”. 9 Luan van Tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Phượng (2011), Tổ chức và hoạt động của Cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh (từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh), Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, tr.8, 13: “ Hoạt động thi hành án dân sự là hoạt động tư pháp của Nhà nước nhằm đảm bảo cho bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương mại được thi hành theo đúng quy định của pháp luật”. Tác giả cho rằng: “nếu dựa theo quan điểm thứ hai mà cho rằng thi hành án có cả dấu hiệu của hoạt động hành chính và dấu hiệu của hoạt động tư pháp nhưng hoạt động thi hành án thiên nhiều về hành chính và nên coi đó la hoạt động hành chính – tư pháp thì rất dễ dẫn đến sự nhìn nhận không đầy đủ về bản chất, đặc trưng của hoạt động hành chính.
Bởi vì đặc trưng chủ yếu của hoạt động hành chính là hoạt động chấp hành, điều hành, các quyết sách đưa ra dựa trên cơ sở mệnh lệnh, phục tùng, có tính bắt buộc chấp hành của cấp trên đối với cấp dưới…” Tác giả Nguyễn Ngọc Thiện (2014), Pháp luật về khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực thi hành án dân sự, Luận văn thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh: “Thi hành án dân sự là hoạt động hành chính – tư pháp của Nhà nước, được thực hiện bởi các chủ thể do pháp luật quy định theo một trình tự, thủ tục luật định, nhằm đảm bảo thi hành các bản án, quyết định về dân sự của Tòa án hoặc quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền”. Mỗi một quan niệm trên đều có cơ sở khoa học và lý luận riêng. Tuy nhiên, tác giả đồng tình với quan niệm tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Phượng cho rằng thi hành án dân sự là hoạt động tư pháp bởi vì tính chất tư pháp của hoạt động thi hành án dân sự thể hiện qua những điểm sau: Thứ nhất, thi hành án dân sự là giai đoạn của quá trình tố tụng nói chung, và được xác định là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng. “Bởi nếu tách ra sẽ không thực hiện được mục tiêu chung của quá trình tố tụng.
Khi chân lý được làm sáng tỏ thể hiện trong bản án, quyết định của Tòa án thì mới dừng lại ở việc làm rõ 10 Luan van đúng hay sai, phải hay trái trên văn bản, giấy tờ. Muốn nó thực hiện trên thực tế, cần phải chờ hiệu quả của công tác thi hành án. Vì vậy, thi hành án là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử. Ở giai đoạn này cơ quan thi hành án áp dụng các biện pháp được pháp luật quy định để đưa chân lý trở thành hiện thực trong đời sống thực tế.
Quá trình đi tìm chân lý kéo dài suốt quá trình tố tụng cho đến khi được khẳng định trên thực tế”. Thứ hai, hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự gắn liền hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân. Tòa án là cơ quan tư pháp, thực hiện chức năng xét xử, ban hành các bản án, quyết định nhân danh Nhà nước. Cơ quan Thi hành án dân sự là cơ quan chấp hành, thực hiện và tổ chức thi hành án các bản án, quyết định của Tòa án.
Công tác thi hành án dân sự có hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào phán quyết của Tòa án trong việc tuyên án, chuyển giao kịp thời, đầy đủ các bản án, quyết định cho cơ quan thi hành án dân sự, giải thích, những nội dung trong bản án, quyết định mà cơ quan Thi hành án dân sự, đương sự có kiến nghị, đề nghị, nâng cao trách nhiệm của Tòa án trong việc xác định quyền sở hữu của người phải thi hành án. Theo Điều 170 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định: Tòa án có quyền “yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự báo cáo kết quả thi hành bản án, quyết định trong trường hợp cần thiết”. Hoạt động thi hành án dân sự có mối quan hệ mật thiết, đan xen với các giai đoạn tố tụng trước đó. Thứ ba, chức năng chủ yếu của thi hành án là nhằm đảm bảo cho các bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định khác có hiệu lực pháp luật được thi hành trên thực tế.
Thứ tư, quá trình thi hành án dân sự tuân thủ chặt chẽ các trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Việc tuân thủ chặt chẽ các trình tự thủ tục do pháp luật thi hành án dân sự quy định từ khâu nhận đơn yêu cầu thi hành án, ra quyết định thi hành án, giao quyết định thi hành án, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án, thỏa thuận giá, thỏa thuận tổ chức thẩm định giá… 11 Luan van Thứ năm, hoạt động thi hành án dân sự là một trong những hoạt động tư pháp, chịu sự kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân. Theo Điều 12 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định: “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thi hành án dân sự”.