Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE ĐÌNH CÔNG VA PHAP LUAT VE ĐÌNH CONG BAT HỢP PHAP 1. Khai niệm Xét về ban chất, quan hệ lao động là quan hệ mua ban sức lao động, ở đó NLĐ muốn bán sức lao động với giá cao trong một điều kiện thuận lợi, ngược lại, NSDLĐ muốn mua sức lao động với giá thấp trong một môi trường làm việc kém thuận lợi hơn, ít chi phí đầu tư. Chính vì vậy, quan hệ lao động vừa là quan hệ đối lập (sự đối lập có thể dẫn tới xung đột) nhưng đồng thời là quan hệ hợp tác (hợp tác hai bên cùng có lợi). Khi lợi ích không được dung hòa, sự đối lập ngày càng tăng cao, một trong các bên có xu hướng sử dụng những biện pháp có thé hợp pháp hoặc không hợp pháp dé đạt được mục dich của mình.
Đình công là một trong những biện pháp mà NLĐ sử dụng để gây áp lực với NSDLĐ với mong muốn đạt được những yêu cầu nhất định. Vì vậy, đình công có thé được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau: Dưới góc độ kinh tế, đình công là biện pháp đấu tranh kinh tế được thực hiện bởi những NLD nhằm gây sức ép đối với NSDLĐ nhằm đạt được những yêu sách nhất định. Các yêu sách đó có thể liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của NLD trong quan hệ lao động, cũng có thể là các yêu sách liên quan đến vấn đề xã hội, kinh tế diễn ra trong đời sống ma NLD quan tâm. Khi NLD sử dụng đình công như một biện pháp gây sức ép đối với NSDLD thì việc ngưng trệ sản xuất, đảo lộn trật tự quản lý doanh nghiệp, làm giảm năng suất, ảnh hưởng uy tín doanh nghiệp diễn ra là điều dễ hiểu.
Chính vì lý do đó mà có nhiều ý kiến cho răng đình công có thể ví như mặt trái của nền kinh tế thị trường. Dưới góc độ xã hội, đình công có thể được xem xét là hiện tượng có khả năng gây mât ôn định đôi với trật tự xã hội. Với các cuộc đình 8 công diễn ra ở quy mô nhỏ, hành vi ngừng việc diễn ra một cách hòa bình, mức độ ảnh hưởng đến trật tự xã hội sẽ không lớn. Nhưng với các cuộc đình công diễn ra ở phạm vi rộng, thu hút sự tham gia đông đảo của hàng nghìn NLD, kèm theo hành vi ngừng việc là những hành động quá khích như la hét phản đối, đập phá máy móc hay xô xát với người NSDLD thường gây những bất ôn xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường, sức lao động được coi là một dạng hang hóa đặc biệt, các bên được tự do thỏa thuận quyền và nghĩa vụ. Quan hệ lao động vừa mang tính hợp tác, vừa mang tính đối lập. Hợp tác tạo ra những lợi ích chung thỏa mãn nhu cầu của cả hai bên khi tham gia quan hệ lao động. Đối lập do quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia, và ngược lại, nên giữa hai bên luôn tiềm an những mâu thuẫn cục bộ về lợi ích.
Chính những mâu thuẫn này là tiền đề dé những NLD liên kết lại tìm một phương thức chống đối, gay sức ép đối với NSDLD. Dinh công là một trong những phương thức đó. Như vậy có thể thấy, đình công là một hiện tượng xã hội khách quan, tất yêu trong nền kinh tế thị trường. Đình công chỉ phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội mà nó tồn tại chứ hoàn toàn không phụ thuộc vào việc nhà nước hay pháp luật một quốc gia có thừa nhận hay không.
Trong cuộc đình công luôn chứa cả yếu tố tích cực (đình công ở một góc độ nào đó cũng góp phan bảo vệ những giá trị tiến bộ xã hội như quyền dân chủ trong lĩnh vực lao động, quyền tự do định đoạt và một số quyền khác) và cả yếu tố tiêu cực (ảnh hưởng tới trật tự xã hội, môi trường doanh nghiệp). Vấn đề đặt ra đối với mỗi nhà nước trong quản lý đình công là tìm những giải pháp làm giảm đi yếu tố tiêu cực của cuộc đình công. Dưới góc độ pháp lý, đình công là quyền của NLĐ được pháp luật mỗi quốc gia thừa nhận trong một phạm vi nhất định. Quyền đình công được hiểu là quyền ngừng việc tạm thời của những NLD nhằm buộc NSDLD phải thỏa mãn những yêu sách nhất định.
Theo quy định một sô quôc gia quyên đình công là một trong những quyên cơ bản của 9 NLD. Tổ chức Lao động quốc tế ILO đưa ra định nghĩa về đình công như sau: “Đình công là một sự ngừng việc tạm thời có dự tính hoặc sự bỏ việc của một nhóm công nhân trong một doanh nghiệp hoặc một vài doanh nghiệp để biểu thị một mối quan tâm hoặc gây áp lực bắt doanh nghiệp thực hiện các đòi hỏi vỀ tiễn lương, giờ làm việc và điều kiện lao động. Các vụ đình công được đặc trưng bởi mức độ khác nhau về hình thức và cách tổ chức, về mức độ tham gia và khởi xướng của công đoàn hoặc các nhóm công nhân. Chúng cũng khác nhau về thời gian và ý nghĩa từ những cuộc biểu tình ngắn nhằm mục đích thương lượng cho tới đấu tranh lao động và chính trị lâu dài.
Những người tham gia đình công van cho rằng họ là những NLP của doanh nghiệp với quyên được trở lại làm việc khi vụ tranh chấp được giải quyết”. Quan niệm về đình công của ILO tương đối toàn diện, bao quát, có tính tham chiếu cho pháp luật các quốc gia khi xây dựng một khái niệm về đình công phù hợp với thực tế đất nước mình. Ở một số nước phát triển, đình công được xem như một quyền đương nhiên cua NLD, là một hiện tượng xuất hiện khách quan va hoàn toàn bình thường của xã hội nên không quy định cụ thé trong luật mà chỉ do án lệ xác định như Đức, Anh, Australia. Song ở hầu hết các nước khác đều ghi nhận quyền đình công trong các văn bản pháp luật về lao động, chăng hạn Hoa Kỳ quy định trong Luật quan hệ quản lý lao động; Malaysia, Thái Lan quy định trong Luật quan hệ lao động; Nga, Na Uy, Philippines quy định trong BLLD.
Theo đó, nếu như Hoa Kỳ coi: “Dinh công bao gom bat kỳ cuộc đình công hay ngừng việc tập thể có dự tính của NLD (bao gom cả ngừng việc bởi lý do thoả ước lao động tập thể hết hạn) và bất kỳ sự lăn công tập thể hay gián đoạn hoạt động có dự tính cua NLD”; thì Nga lại quan niệm: “Đình công là việc tập thể lao động tự nguyện từ chối tạm thời đối với việc thực hiện trách nhiệm lao động cua mình (một phân hoặc toàn bộ) ? David Macdonal and Caroline Vardenabeele (1997), Glossary of Industria relations and related term, ILO, Bangkok, Thailand. 10 nhằm mục đích giải quyết tranh chấp lao động tập thé”. Định nghĩa này khá giống định nghĩa về đình công trong BLLĐ của Philippines, coi “Dinh công là bat cứ sự ngừng việc tạm thời nào có sự phối hợp của NLĐ do hậu quả của tranh chấp lao động”. Mặc dù thừa nhận quyền đình công của NLĐ ở những góc độ khác nhau, song hầu hết định nghĩa về đình công trong pháp luật của các nước đều ghi nhận một số dấu hiệu cơ bản của đình công như đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện của tập thể lao động một cách có dự tính và phối hợp nham mục đích giải quyết các van dé thuộc quan hệ lao động.
Pháp luật Việt Nam ghi nhận đình công là quyền của người lao động. Tuy nhiên, quyền đình công này chỉ giới hạn trong khuôn khổ mà pháp luật cho phép và phải tuân theo những trình tự, thủ tục nhất định do pháp luật quy định. BLLD quy định: “Dinh công là sự ngừng việc tam thoi, tu nguyện và có tổ chức của tập thể lao động nhằm dat được yêu cau trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động”. Khái niệm này đã chỉ ra được các dau hiệu đặc trưng cơ bản của cuộc đình công: là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện, có tô chức và mục đích của cuộc đình công là đạt được yêu cầu của NLĐ.
Tuy nhiên, trong thực tế, đình công không chỉ xảy ra khi có tranh chấp lao động, mà tính chất, mức độ đa dạng, phức tạp phụ thuộc vào nguyện vọng của NLD. Khái niệm đình công được quy định trong pháp luật Việt Nam chỉ đề cập đến vấn đề đình công trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động, vô hình chung làm hẹp phạm vi của vấn đề. Với khái niệm này, tính chất, mức độ và nội dung của các cuộc đình công vẫn chưa được bao quát hết vì trên thực tế có những cuộc đình công không nhằm giải quyết tranh chấp lao động (VD: cuộc đình công phản đối Điều 60 ù Trung tâm Hỗ trợ phát triển quan hệ lao động, Bộ Lao động thương binh và xã hội (2012), 700 thuật ngữ thông dụng nhất về quan hệ lao động được quốc tế sử đụng, NXB Lao động- Xã hội, tr. Vụ pháp chế, Bộ Lao động thương binh và xã hội (2010), Tai liéu tham khảo Pháp luật lao động nước ngoài, , NXB Lao động — Xã hội, tr.
” BLLĐ 2012: Khoản 1, Điều 209. lại Luật BHXH của công nhân Công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH) PouYuen Việt Nam. Trong 02 ngày 26-27/3/2015, gần 90.000 công nhân Công ty TNHH PouYuen Việt Nam (quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh) đã đình công phản đối các quy định tại Điều 60, Luật Bảo hiểm xã hội 2014 về việc không cho người tham gia Bảo hiểm xã hội (BHXH) được hưởng BHXH một lần như trước. Luật này vừa được Quốc hội thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2014 và vẫn chưa có hiệu lực)”.
Quan niệm đình công trong pháp luật Việt Nam nghiêng về khái niệm đình công bất hợp pháp hơn là khái niệm một cuộc đình công nói chung. Vì vậy, đình công có thé được hiểu là: Sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tô chức của tập thể lao động nhằm dat được yêu cau của những người tham gia đình công. Các dấu hiệu cơ bản của đình công Đề nhận biết một cuộc đình công, ta có thể dựa trên những dau hiệu co bản sau day: Thứ nhất, đình công là sự phản ứng của NLD đối với NSDLĐ thông qua hành vi ngừng việc tam thời. Trong điều kiện làm việc bình thường, NLD có nghĩa vụ tuân thủ hop đồng lao động đã ký kết về thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi.
Mọi sự nghỉ việc không được sự đồng ý của NSDLD được coi là trái quy định va NLD có thé phải chịu những hình thức kỷ luật tương ứng.