Chương 1 CƠ SỜ LÝ LUẬN VẢ THỰC TIEN VE DIEU KIỆN KET HON điều kiện kếthôn 1. Khái niệm về kết hôn và điều kiện kết hôn Dua trên các yêu tổ vẻ văn hóa, xã hội, tôn giáo. ma các học giã có quan niệm khác nhau về hôn nhân. Một định nghĩa phổ biển về hôn nhân.
được chấp nhận như sau: Đó là một kết hợp chính thức bằng hợp đồng đặc biệt va văn bản có tính chất pháp lý giữa hai cả nhân nhằm hợp nhất cube sống của họ một cách hợp pháp. Thỏa thuận hôn nhân theo hợp đồng thường ngụ ý rằng họ có nghĩa vu pháp lý với nhau trong suốt cuộc đời hoặc cho đến. khi họ quyết định ly hồn Két hôn cũng mang lại tính hợp pháp cho các mỗi quan hệ khác nhau kể cả tình đục trong hôn nhân. Theo truyền thông, hôn.
nhân thường được xem là có vai trò chính trong việc giữ gin đạo đức và văn. Vì hôn nhân la sự kết hợp vẻ thể chat, pháp ly va đạo đức giữa người dan ông và người phụ nữ trong cuộc sống công đồng nên mục đích của hôn nhân là để thành lâp một gia đính. Từ những van để ở trên cho thấy, hôn nhân. có đặc điểm đó 1a có tính liên hợp, tính vĩnh cửu và tinh độc quyên.
Tinh liên hop dé cập đến cách thể hiên ở sự hoàn thành của cuộc hôn nhân là do sự giao hop giữa vợ và chồng, hướng đến sự tén tai của người con. Sự vĩnh cửu có nghĩa là cuộc hôn nhân khống thé bị giai thể hoặc hủy bd trừ khi có một số điều kiện cụ thể được dap ứng hoặc một trong hai chết. Độc quyển để cập đến quan hệ tỉnh dục va có nghĩa là không bên nào trong hôn nhân được tự do tham gia vao các mồi quan hé ngoài hôn nhân. Chỉnh vi thể, hôn nhân là một hợp đồng rang buộc vé mặt pháp lý sẽ ảnh hưởng đến cả hai bên Luật Hôn nhân va gia đính năm 1959 và năm 1986 chưa đưa ra khái tiệm kết hôn mà khái niệm nay được giải thích trong phan ai danh từ “Kết hôn là việc nam nit lắp nha thành vợ thành chẳng theo quy định cia pháp luật" Bén khi Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 ra đồi thì kết hôn mới chính thức được đính nghĩa, theo đó "Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vo chồng theo quy định của pháp luật về diéu kiến kết hôn và đăng ký kết hôn".
Theo đó, kết hôn phi bao đảm hai yêu tổ la thể hiện ý chi cia cả nam và nữ là mong muốn được kết hôn với nhau va được Nba nước thừa nhận Tiếp tục kế thừa những quy định của Ludt hôn nhân và gia đỉnh năm. 2000, khoản 5 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đỉnh năm 2014 ra đời ghi nhân "Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn". Như vậy, giãi thich thuật ngữ kết hôn trong Luật hôn nhân va gia đình năm 2014 đã phần ánh. được toan điên, đây đủ bin chất của quan hệ hôn nhân trong xã hội hiện nay.
Kết hôn được hiểu là việc nam nữ lấy nhau thành vợ chẳng được nha nước thừa nhân. Do đó để được Nhà nước thừa nhận, hai bên nam nữ khí sắc lập quan hệ vợ chồng phải tuân thủ các quy đính của pháp luật vé kết hôn. Dưới góc đồ pháp lý, kết hôn là sự kiến pháp lý lâm phát sinh quan hé hôn nhân Theo định nghĩa chính thức của pháp luật Việt Nam hiện hành, lả việc nam và nữ sắc lập quan hệ vợ chẳng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn (Luật hôn nhân và gia đính năm 2014 Điều 8 khoản 1). Nói cách khác, kết hôn được xem sét với ý nghĩa là một chế định pháp lý, được ghi nhân trong văn bản quy pham pháp luật nhằm sắc lập quan.
hệ vợ chẳng. Bao gồm các quy pham pháp luật về điều kiện kết hôn, đăng ky kết hôn, các hình thức xử lý đối với vi pham pháp luật vẻ kết hôn. Đổi với đăng kỹ kết hôn, đó là những chuẩn mực pháp lý được pháp luật quy đính ma các bên nam nữ phải đáp ứng để việc tiên tới hôn nhân của hho được công nhận lả hợp pháp. Như vay, điều kiện kết hôn chỉnh là ý chi của nhà nước trong lĩnh vực kết hôn, bat buộc các bén tham gia quan hệ kết hôn.
phải tuân thủ những điều kiện nhất định đó. Vé sự ghi nhận định nghĩa điều kiện kết hôn trong các văn bản quy phạm pháp luật. Hiện nay, theo Đạo luật Hôn nhân của các nước như Philippin, Luật gia đỉnh của Singapore. trong đồ có Việt Nam (từ khi có Luật Hồn nhân và gia đình năm 1959 đến nay) thì chưa có một định ngiãa chính thức vé khái niệm "điều kiến kết hôn".
Theo Từ điển Luật học thì "Điều kiện kết hôn la doi héi vẻ mặt pháp lý đổi với nam, nữ và khi théa mãn những đòi hỏi đó thi nam, nữ mới có quyển kết hôn" Dưới goc đô nghiên cứu có thể hiểu điều kiên kết hôn tổn tại với tư cách la các quy pham pháp luật riêng ré và đc lập. Trong số các quy phạm pháp luật đó thì đã lên ý chí của nha nước khi đất ra các quy pham nhiim răng buộc các bên khi muôn tiễn tới quan hệ kết hôn. Các điểu kiện kết hôn, trong khung cảnh cia luật thực định Việt Nam, được xếp vào nhóm các quy tắc mang tính. mệnh lệnh bắt buộc.
Vi phạm các điều kiện ấy, hôn nhân bị coi là trai pháp luật và có thé bị hủy. Quan hệ vợ chồng ma vi phạm các điều kiện ấy không. được coi là quan hệ hôn nhân và không thé lảm phát sinh các hệ quả pháp lý của quan hệ hôn nhân 112. Căn cứ xác định tội dung quy định về điều kiện ka hon Thứ nhất, dua trên quan điểm chính thức về chế độ chính tri, pháp if, xã hội.
ché đô hôn nhân và gia đinh Có thể nói, pháp luật vé hôn nhân va gia đính nói chung va quy định về điều kiện kết hôn nói riêng được zã y đựng dua trên nên chính tri, văn hóa, xã hội của mỗi một quốc gia. Những tư tưởng nay được thể hiện trong các nguyên tắc xây dựng Luật Hôn nhân va gia đỉnh _, nguyên tắc hiển đính về quyền con người, nguyên tắc về bình dan g giới. Trên thực tê, ở một số quốc. gia trên thé giới, pháp luất quy định cho phép chế độ đa thê (dan ông có thể co nhiễu vo) như Tajikistan - một đất nước TrungÁ Theo đỏ, công dân Tajikistan có thé cưới tới 4 người vo, tat cả những người ve bé déu phat được su đồng ý của vợ cả mới được chính thức công nhận.
Tuy nhiên, chế độ đa thê bi chính phũ cắm đoán trong thời gian gin đây nhưng những người Hỏi giáo vấn kiên định duy trì. Hoặc ở Nam Phi, người Zulu, nhóm đân tộc lớn nhất và nỗi tiếng nhất của Nam Phi có tập tục da thé từ rất lâu .Những người vợ được coi 1a biểu tượng cho địa vị của một người dan ông _, dan ông cảng nhiễu vợ cảng chứng tô người din ông đó có bản lĩnh, có tiên Chính vì vây, rất nhiễu gia đình sẵn sảng gã con gái cho những người din ống giau có lâm vo lế , chỉ để đổi lay những món tiên lớn. Ở Việt Nam, hôn nhân một vợ một chẳng. được xem là định hướng cơ ban của pháp luật, là diéu cơ bản được thừa nhân.
xông rã trong đời sông zã hội. Đây là định hướng xuyên suốt được ghi nhân trong tất cả các dao Ludt Hôn nhân va gia đỉnh từ năm 1959, 1986, 2000 đền. Việc ghi nhân chế độ hôn nhân một vợ một chẳng thể hiện quyền. tình đẳng nam nữ; tôn trong quy cá nhân, quyền con người thể hiện mức độ văn mình của văn hóani ở đỏ gia đỉnh lả nén ting là gốc của sã hội được thửa nhận ở Việt Nam .Vé ban chất, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng có nghĩa trong thời kỳ hôn nhân chỉ tôn tai một quan hệ hôn nhân hợp pháp va 14 quan hệ hôn nhân duy nhất.
Theo nguyên tắc hôn nhên một vợ một chẳng thì chỉ những người chưa có vơ, chưa có chẳng hoặc tuy đã kết hôn nhưng hôn nhân đó đã chấm đút (vợ hoặc chẳng ho đã chết hoặc vợ chồng đã ly hôn) thì mới có quyển kết hôn với người khác. Việc kết hôn của ho phải với những người đang không có vợ hoặc đang không có chẳng, Vi vay, hôn nhân một vợ "một chẳng là điều quan trọng lâm cho cuộc sing chung vợ chẳng lâu dai, bên vững va thực sư hạnh phúc. Chính điều nảy nó là cơ sở để xây dựng các quy. định về diéu kiện kết hôn cho tương thích “Thứ hat, căn cứ vào mmc tiêu điễu chữnh của pháp luật về hôn nhân núi chung và Rỗt hôn nói riêng.
Có thé nói, ở gúc độ chung nhất thì mục đích của hôn nhân là yêu câu pháp lý va dao lý ma những người xác lập quan hệ hôn nhân _ (vợ, chẳng) nhằm đạt tới. Thông thường, muc đích cia hôn nhân đươc pháp luật quy định, thể hiện quan điểm của Nha nước về việc điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và 10 gia đình, nhằm xây dựng chế độ hôn nhân va gia dinh tiền bô, bền vững va dn đính. Tuy nhiên, mục đích cia hôn nhân không đồng nghĩa với mục đích của việc kết hôn. Thông thường, mục đích của việc kết hôn thống nhất với mục dich của hôn nhân, nhưng cũng có trường hop mục dich của việc kết hôn trái với mục dich của hôn nhân như trường hop kết hôn giả tạo _ (tức lảhảnhvi nhằm che đậy một hành vi vi phạm khác), kết hôn do cưỡng ép (tức là trái với `ý muôn của một trong hai bên.
Bởi lễ, sét vé bản chất của kết hồn thi mmc đích thực sự của việc kết hôn la dé mỗi người tìm thay hạnh phúc to lớn vả dai lâu. Đó có thể la hanh phúc vì có con cái chung , vi được chung thủy một vo mốt chẳng, vi chia sẽ những niễm vui, lỗi buôn trong cuộc sống. Vi vậy, để tranh những hậu quả , hệ lụy của việc lợi dung ôn để thực hiện các "hành vi vi phạm pháp luật khác hoặc trái với ý nguyện của một trong các bên.