Chương 1: Những vấn đề chung về diện và hàng thừa kế. Chương 2: Pháp luật một số quốc gia về diện và hàng thừa kế, kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật Việt Nam. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DIỆN VÀ HÀNG THỪA KẾ Ở chương này, nhóm tác giả tập trung phân tích những quy định về diện và hàng thừa kế theo pháp luật Việt Nam. Cùng với đó phân tích quá trình phát triển của quy định về diện và hàng thừa kế từ thế kỉ XV đến nay nhằm thấy được những sự thay đổi, đưa ra những nhận định làm sáng tỏ quá trình phát triển theo chiều dài lịch sử.
Nhóm tác giả sẽ đưa ra phân tích, xác định diện và hàng thừa kế trên cơ sở quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân và quan hệ nuôi dưỡng. Khái quát về diện và hàng thừa kế 1. Khái quát về người thừa kế theo pháp luật (i) Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế Để đáp ứng nhu cầu vật chất ngày càng tăng cao, con người không ngừng cải tạo tự nhiên, tạo ra ngày càng nhiều của cải vật chất. Nếu tài sản có thể tồn tại lâu dài hoặc biến đổi từ dạng này sang dạng khác thì ngược lại, con người sống chết theo quy luật tự nhiên.
Vì vậy, vấn đề đặt ra là những của cải đó được để lại cho ai, để lại như thế nào…Việc di chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống theo các cách thức như vậy gọi là thừa kế.1 Khái niệm về thừa kế Việc di chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống được gọi là thừa kế. Dưới các góc độ khác nhau, thừa kế vừa là một vấn đề thuộc phạm trù: Thứ nhất: Thừa kế là một phạm trù lịch sử vì đây là một vấn đề gắn liền với lịch sử loài người, kể cả trước khi xuất hiện giai cấp và nhà nước. Thứ hai: Thừa kế là một phạm trù kinh tế, là quá trình tiếp nối luân chuyển tài sản giữa các thế hệ. các tài sản này tiếp tục được chiếm hữu, sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh, tiêu dùng.
Thứ ba: Thừa kế là một phạm trù pháp lý mà nội dung của nó xác định phạm vi các quyền, nghĩa vụ của chủ thể trong quan hệ thừa kế được nhà nước đảm bảo thực hiện.2 1 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2020), Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế, Nxb.Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 2 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2020), Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế, Nxb.Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 12 “Thừa” và “kế” đều có nghĩa là tiếp nối, tiếp tục. Do đó, thừa kế được hiểu rằng: người sống thừa hưởng tài sản của người đã qua đời.
Việc thừa kế chỉ được thực hiện khi người có tài sản chết.3 Còn theo như Từ điển giải thích thuật ngữ luật học: “Thừa kế là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho những người còn sống. Thừa kế luôn gắn với chủ sở hữu, sở hữu là yếu tố quyết định thừa kế và là phương tiện để duy trì, củng cố quan hệ sở hữu”.4 Tóm lại, thừa kế có thể hiểu là tài sản của người chết sẽ được chuyển cho một chủ thể có thể là cá nhân hoặc tổ chức theo ý chí của người để lại di sản hoặc theo quy tắc, mà mỗi chế độ xã hội khác nhau có những quy tắc khác nhau do điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội,.5 Khái niệm về quyền thừa kế Quyền thừa kế của một cá nhân gắn bó chặt chẽ với quyền sở hữu của cá nhân đó. Quyền sở hữu là tiền đề, là cơ sở để quyền thừa kế và ngược lại quyền thừa kế là căn cứ thiết lập quyền sở hữu mới.6 Dưới góc độ khoa học pháp lý, quan hệ thừa kế là quan hệ vừa mang tính chủ quan vừa mang tính khách quan. Phương diện chủ quan: quyền thừa kế được hiểu là những quyền dân sự cụ thể do pháp luật quy định đối với người để lại di sản, những người nhận di sản thừa kế và những người có quyền lợi liên quan trong quan hệ thừa kế.
Phương diện khách quan: quyền thừa kế là một chế định của pháp luật dân sự, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh quá trình dịch chuyển tài sản từ người chết cho người khác còn sống theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật.7 Quyền thừa kế được ghi nhận trong các văn bản pháp luật với các quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, điều kiện chuyển dịch tài sản của người chết sang người còn sống. Ngoài ra, do mỗi chế độ xã hội với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau, các 3 Hoàng Thế Liên (chủ biên) (2013), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự 2005, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 4 Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb.Công an nhân dân, Hà Nội, tr.
5 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2020), Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế, Nxb.Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 6 Nguyễn Thị Huế (2014), Luận văn Diện và hàng thừa kế theo pháp luật Việt Nam, tr.7 7 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2020), Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế, Nxb.Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 13 quy định về thừa kế cũng khác nhau; hoặc ngay cả trong cùng một chế độ xã hội, tùy từng thời điểm khác nhau, các quy định cũng có thể khác nhau. Cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội, pháp luật về thừa kế luôn được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với những bước tiến của xã hội, góp phần bảo vệ tốt hơn quyền thừa kế của chủ thể, qua đó không ngừng củng cố quyền sở hữu của chủ thể, tạo sự công bằng, bình đẳng hơn trong quan hệ thừa kế và giúp ổn định xã hội dân sự.
Tóm lại, quyền thừa kế có thể được hiểu là một chế định pháp luật bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh quá trình chuyển tài sản từ người chết sang cho người còn sống, là quyền năng dân sự chủ quan của chủ thể có quyền để lại di sản thừa kế hoặc có quyền hưởng di sản thừa kế của người chết để lại theo ý chí của người đó khi còn sống (bằng di chúc) hoặc theo điều kiện, trình tự và thủ tục do pháp luật quy định (thừa kế theo pháp luật). (ii) Khái niệm về thừa kế theo pháp luật và các trường hợp thừa kế theo pháp luật Khái niệm về thừa kế theo pháp luật Pháp luật về thừa kế ở Việt Nam quy định hai hình thức thừa kế bao gồm: thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Thừa kế theo di chúc được hiểu là phương thức chuyển dịch tài sản người chết để lại, theo ý nguyện của người đó lúc còn sống được thể hiện trong di chúc, cho người thừa kế được chỉ định trong di chúc đó.8 Tuy nhiên, trên thực tế không phải lúc nào người để lại di sản cũng lập di chúc hoặc di chúc người này lập ra đều phát sinh hiệu lực theo quy định của pháp luật. Do đó, pháp luật còn quy định về hình thức thừa kế theo pháp luật nhằm đảm bảo quyền thừa kế của các chủ thể có quan hệ huyết thống, quan hệ gia đình và quan hệ nuôi dưỡng với chủ sở hữu tài sản khi người này chết.
Thừa kế theo pháp luật là trình tự phân chia di sản thừa kế của người đã chết cho những người còn sống theo điều kiện, trình tự theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại Điều 649 BLDS năm 2015 có nêu khái niệm về thừa kế theo pháp luật như sau: “Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.” Thừa kế theo pháp luật là sự chuyển dịch di sản 8 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2020), Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế, Nxb.Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 14 của người chết cho những người còn sống theo mối quan hệ ràng buộc về huyết thống, hôn nhân, sự thân thuộc giữa người có tài sản để lại sau khi họ chết với người nhận tài sản, sự dịch chuyển trên được thực hiện theo “hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định”.9 Bên cạnh đó, thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật có thể được áp dụng đồng thời trong việc phân chia di sản của người chết để lại. Di sản của người chết có thể vừa được chia theo di chúc, vừa được chia theo pháp luật.
Việc chia thừa kế theo các hình thức trên phụ thuộc vào việc người chết có để lại di chúc hay không, hoặc tùy thuộc vào phần di chúc không có hiệu lực thi hành, hoặc toàn bộ di chúc không có hiệu lực trong việc chia di sản của người để lại di chúc. Các trường hợp thừa kế theo pháp luật. Theo Điều 650 của BLDS năm 2015 thì thừa kế theo pháp luật được chia thành hai loại ở hai phạm vi di sản khác nhau là: toàn bộ di sản và một phần di sản được chia cho những người thừa kế theo pháp luật:10 ● Toàn bộ di sản thừa kế được chia cho những người thừa kế theo pháp luật Thứ nhất, chia toàn bộ di sản thừa kế theo pháp luật do không có di chúc. Việc chia thừa kế do không có di chúc còn có thể có các trường hợp cụ thể như: - Chủ sở hữu tài sản có đủ điều kiện cho pháp luật quy định để được lập di chúc nhưng người này lại không lập di chúc.
- Trước khi chết, chủ sở hữu tài sản có lập di chúc nhưng sau đó chính họ hủy bỏ di chúc đã lập - Trước khi chết, cá nhân có lập di chúc hợp pháp, nhưng bị thất lạc, hư hại và tại thời điểm mở thừa kế thì di chúc bị thất lạc hoặc bị hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập di chúc và cũng không có bằng chứng nào chứng minh được ý nguyện mục đích của người người lập di chúc.11 9 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2020), Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế, Nxb.Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 10 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2020), Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế, Nxb.