Chương 1: Diện mạo phố cổ Hà Nội trước thế kỷ XX Chương 2: Diện mạo phố cổ Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX qua tư liệu địa chính (ô phố: Hàng Bạc - Mã Mây - Tạ Hiện - Lương Ngọc Quyến) Chương 3: Không gian tín ngưỡng phố cổ Hà Nội qua tư liệu địa chính (ô phố: Hàng Bạc - Mã Mây - Tạ Hiện - Lương Ngọc Quyến) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 DIỆN MẠO PHỐ CỔ HÀ NỘI TRƢỚC THẾ KỶ XX 1. Khu phố cổ Hà Nội trƣớc thế kỷ XIX Nằm trong vùng trung tâm của Thăng Long - Hà Nội, phố cổ có lịch sử hình thành và phát triển gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của Thăng Long - Hà Nội. Lịch sử của Thăng Long - Hà Nội được bắt đầu từ một cộng đồng tụ cư quanh ngã ba sông Tô Lịch - Nhĩ Hà. Với vị trí đường thủy thuận lợi, vùng đất hợp lưu giữa “đất và nước” nhanh chóng trở thành một khu vực đông đúc, kinh đô của nước Vạn Xuân thế kỷ VI thời Lý Nam Đế, thủ phủ của chính quyền đô hộ nhà Đường (thế kỷ VI, VII đến thế kỷ IX).
Trải qua thời gian và những biến chuyển không ngừng của lịch sử dân tộc, đến năm 1010 Thăng Long chính thức trở thành một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của nước Đại Việt với sự kiện Lý Thái Tổ dời đô từ vùng núi Hoa Lư về thành Đại La và đổi tên là thành Thăng Long với ý nghĩa rồng bay lên. Mảnh đất này hội đủ các tiêu chí thủ đô của một quốc gia thống nhất và thịnh đạt: “ở giữa khu vực trời đất, có thế rồng cuộn hổ ngồi,ở giữa Nam - Bắc - Đông - Tây, tiện hình thế núi sông sau trước, đất rộng mà bằng phẳng, chỗ cao mà sáng sủa, dân cư không khổ về ngập lụt, muôn vật rất thịnh mà phồn vinh, xem khắp nước Việt, chỗ ấy là nơi hơn cả. Thực là chỗ hội họp của bốn phương, là nơi thượng đô của kinh sư muôn đời. Lý Thái Tổ đã nhận thấy được những điều kiện thuận lợi không chỉ về tự nhiên mà cả về kinh tế - xã hội của Thăng Long - Hà Nội lúc đó.
Về mặt địa lý - lịch sử, đây được coi là một “thành thị thiên nhiên” [41; 1] với hình thế núi sông sau trước và một mạng lưới dày đặc các sông ngòi, hồ đầm: “các thế núi và thung lũng đông - tây - bắc dồn về, những con sông Cái - sông con qui tụ và lan toả. Đó là thành thị ngã ba sông, đô thị sông, đô thị trên bờ phải sông Cái - Nhị Hà, với hai sông nhánh Tô Lịch - Kim Ngưu cùng với sông Cái - Nhị Hà bọc lấy và làm giới hạn cho không gian đô thị” [95; 5]. Dân gian Hà Nội xưa đã khái quát về khoảnh đất cốt lõi của Hà Nội cổ: Nhị Hà quanh bắc sang đông Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về mặt kinh tế - xã hội, Thăng Long - Hà Nội là đầu mối của những đường giao thông trọng yếu “bốn phương tụ hội”.
Ở đây, thuyền bè có thể theo đường sông mà xuôi ngược khắp đất kinh kỳ và tỏa đi mọi miền đất nước. Thăng Long - Hà Nội, như cách gọi trong tiếng Việt là thành thị hay đô thị, được tạo thành từ hai yếu tố khởi nguồn chủ yếu. Yếu tố thứ nhất là thành hoặc đô chỉ một tòa thành, có nghĩa là nơi tập trung quyền lực, hệ thống chính trị vương triều, khép kín trong các bức tường thành kiên cố. Yếu tố thị có nghĩa là chợ.
Đây là một yếu tố cơ bản để phát triển khu phố buôn bán nằm bên ngoài khu vực quan liêu - chính trị. Đó chính là trung tâm kinh tế của đô thị với các hoạt động thương mại, thủ công nghiệp và cư trú của người dân. Đây là hai nhân tố cốt lõi nhất, chi phối sự phát triển Hà Nội trong lịch sử, trước hết là sự tập hợp và chuyển hóa một số lượng nhất định các làng nghề thủ công và nông nghiệp truyền thống ở ngoại ô bao quanh. Và “nếu thành phần thứ nhất chi phối sự phát triển đô thị bởi giá trị biểu tượng quyến rũ, thì thành phần thứ hai, bởi tính hấp dẫn của các hoạt động sinh tồn” [76; 19].
Hoàng thành - biểu tượng của quyền lực phong kiến - từng là một yếu tố cơ bản như điểm nhấn chế ngự không gian thành phố với những dãy tường thành, những cung điện dinh phủ nguy nga. Bên trong Hoàng thành là nơi tập trung chính quyền trung ương quan trọng nhất, là nơi ở của vua và hoàng tộc với tên gọi Cấm thành. Từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX, trải qua các triều đại trong lịch sử, Hoàng thành được xây dựng kiên cố rồi tu sửa, xây đắp nhiều lần với nhiệm vụ đảm bảo an ninh và đề cao quyền lực của vua chúa phong kiến. Với tư cách là nơi tập trung quyền lực cao nhất của vương triều, Hoàng thành đã ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của toàn bộ thành phố bởi chính giá trị biểu tượng quyền lực tập trung tạo nên dạng bố cục đặc trưng của đô thị phong kiến Việt Nam.
Khu phố buôn bán truyền thống mà ngày nay gọi là khu vực “36 phố phường” là một bộ phận khá tách biệt với khu thành hành chính quan liêu. Nằm ở phía đông Hoàng thành, khu vực này trải dài từ cổng thành phía đông tới sát bờ sông Hồng. Đây là một trung tâm kinh tế mà thương mại đóng vai trò quan trọng hơn sản xuất (thủ công nghiệp). Dưới góc độ tổ chức hành chính và quy hoạch không gian, khu 36 phố phường ứng với hai yếu tố tạo nên tên gọi truyền thống của nó, đó là phố và phường.
Yếu tố thứ hai được coi là một đơn vị cơ bản đặc trưng của một xã hội đô thị truyền thống Việt Nam. Năm 1230, nhà Trần chia đặt 61 phường, nhưng không có tư liệu nào ghi chép lại các phường đó. Một số ghi chép trong sử biên niên cho biết tên một số phường như: Giang Khẩu, Kim Cổ, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khúc Phố, Đông Hà. Các phường này tập trung ở khu đông và khu tây của thành Thăng Long với các nghề thủ công như dệt, nhuộm, gốm, sứ, đúc đồng, mộc.
Khu phố cổ là khu vực dân cư đông đúc với các hoạt động thương mại tấp nập nhất của Kinh thành Thăng Long thời đó. Cửa Đông Hoàng thành thời Lý, Trần mở ra khu vực buôn bán - là điểm nối kết các khu vực trong thành với khu kinh tế dân gian. Ở đây tập trung nhiều phố phường, chợ bến (bến sông Tô, chợ Cửa Đông. Việt điện u linh ghi lại: “Đến đời nhà Lý dựng đô ở Thăng Long, vua Thái Tông cho mở phố chợ về phía Cửa Đông, hàng quán chen chúc, sát đến bên đền [đền Bạch Mã], rất là huyên náo” [99; 86].
Thời Lê sơ, về mặt hành chính, khu kinh thành lập thành phủ Trung Đô gồm hai huyện Quảng Đức và Vĩnh Xương. Năm 1469, phủ Trung Đô đổi tên thành phủ Phụng Thiên. Khu dân cư của hai huyện Quảng Đức và Vĩnh Xương chia làm 36 phường, mỗi huyện 18 phường. Khu phố cổ thuộc huyện Vĩnh Xương, sau đổi là Thọ Xương.
Trong Dư địa chí, Nguyễn Trãi có nhắc đến một số phường nay thuộc khu phố cổ như “phường Tàng Kiếm làm kiệu, áo giáp, đồ đài mâm, võng, gấm trừu và dù lọng… Phường Hàng Đào nhuộm điều, phường Tả Nhất làm quạt… Phường Đường Nhân bán áo diệp y. Đồ tiến cống có gấm vóc, đồ thêu. Thăng Long 36 phường có tên gọi bắt đầu từ đó. Con số 36 phường, “có thể xem như một đặc trưng cấu trúc kinh thành Thăng Long vào đời Lê” [40; 32], mang tính ước lệ nhiều hơn là con số chính xác.
Đơn vị hành chính Phường ngoài nội dung chỉ tổ chức của những người làm cùng một nghề, còn được dùng để chỉ đơn vị hành chính cấp cơ sở ở kinh thành Thăng Long. Và phố là bộ mặt của phường, ngoảnh ra đường, có cửa hàng để bày bán các sản phẩm thủ công do phường làm ra. Từ thế kỷ XVII, kinh tế hàng hóa của kinh thành rất phát đạt mà trung tâm sầm uất nhất là khu phố cổ. Thăng Long thời kỳ này được gọi là Kẻ Chợ với ý nghĩa một trung tâm thương mại bao gồm mạng lưới chợ, hệ thống bến cảng - sông, phố phường nội thị và các làng thủ công ven đô.
Mạng lưới chợ ở Thăng Long phát triển mạnh mẽ, mật độ các chợ dày đặc. Chợ họp ở mọi nơi tập trung ở các cửa ô, cửa thành, bờ sông và trên dọc các đường phố, ở tất cả những nơi nào có người qua lại. Khu buôn bán tập trung phía Đông là nơi có mật độ chợ dày đặc nhất, ở đây có chợ Cửa Đông, chợ Cầu Đông, chợ Bạch Mã đều nằm hai bên bờ sông Tô Lịch. Các mặt hàng buôn bán cũng rất lớn và phong phú đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của đông đảo tầng lớp quan liêu và bình dân cư trú tại kinh thành.
Trong đó chủ yếu là hai loại hàng chính: nông sản và thủ công nghiệp. Quang cảnh phiên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chợ ở Thăng Long thế kỷ XVII - XVIII được Samuel Baron miêu tả: “vào ngày 1 và 15 âm lịch, tức ngày của phiên chợ họp, dân chúng những làng lân cận túa đến với vô số hàng hóa đủ loại. Nhiều đường phố khang trang rộng rãi, khi ấy cũng kẹt cứng người đi lại, đôi khi mất cả nửa giờ mới tiến len lỏi được trăm bước. Mọi loại hàng hóa đem bán nơi đây đều có đường phố dành riêng cho từng thứ.
Mỗi phố là nơi độc quyền mở cửa hàng của một hay nhiều làng nghề giống nhau, tổ chức y như hội buôn hay nghiệp phường của Âu châu vậy” [30; 16]. Thăng Long nằm giữa vùng đồng bằng đông dân, trù phú, lại ở vào vị trí đầu mối của những đường giao thông trọng yếu, đặc biệt là hệ thống sông ngòi thuận tiện nên sự giao lưu buôn bán giữa kinh thành Thăng Long với các địa phương ngày càng chặt chẽ. Việc buôn bán trên sông Hồng lúc ấy rất nhộn nhịp. Giáo sĩ Marini đã từng sống ở kinh thành Thăng Long vào đầu thế kỷ XVII, có viết: “Sông bọc lấy thành thị (Thăng Long) trong một khuỷu rộng, nên việc buôn bán được dễ dàng, thuyền bè luôn luôn đi lại trên sông cho nên việc chuyên chở các hàng hóa và làm cho việc buôn bán giữa các tỉnh ngoài với kinh thành được thuận tiện” [53; 72].