Chương 1: Cơ sở lý luận về thuế thu nhập doanh nghiệp và dịch vụ hỗ trợ thuế thu nhập doanh nghiệp cho các Công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng dịch vụ tư hỗ trợ thuế thu nhập doanh nghiệp cho các Công ty có vốn đầu tư nước ngoài tại Công ty TNHH Thuế và Tư vấn KPMG Việt Nam. Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện dịch vụ hỗ trợ thuế thu nhập doanh nghiệp cho các Công ty có vốn đầu tư nước ngoài do Công ty TNHH Thuế và Tư vấn KPMG Việt Nam thực hiện. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ DỊCH VỤ HỖ TRỢ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP CHO CÁC CÔNG TY CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI 1.
Tổng quan về tình hình nghiên cứu “Đầu tư nước ngoài là một vấn đề quan trọng trong nền kinh tế của các Quốc gia, đặc biệt là các Quốc gia đang phát triển. Qua nhiều năm, tỷ lệ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam liên tục tăng trưởng, và kể cả khi toàn cầu chịu tác động không nhỏ của đại dịch COVID-19, hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư vào Việt Nam vẫn không giảm về độ sôi động, tính hiệu quả và chất lượng. Trong những năm qua, đầu tư nước ngoài đã góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, tạo động lực đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, chủ động trong hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới đối với nước ta. Cùng với đó, khu vực doanh nghiệp FDI đóng góp vào thu ngân sách nhà nước ngày càng lớn mà thuế là nguồn thu chủ yếu.
Các chính sách thuế ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các doanh nghiệp FDI thường tập trung vào thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thuế liên quan đến xuất nhập khẩu (XNK) và các khoản thu liên quan đến sử dụng đất. Trong suốt giai đoạn từ năm 1987 đến nay lộ trình cải cách chính sách thuế của Chính phủ có nhiều điểm sáng, tạo cơ hội thúc đẩy, khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, tiêu biểu là các chính sách ưu đãi thuế giúp doanh nghiệp nước ngoài tiết kiệm số vốn lớn trong quá trình đầu tư. Các tiêu chí ưu đãi và hình thức ưu đãi thuế TNDN cũng có sự thay đổi thuận lợi, minh bạch hơn cho nhà đầu tư với tiêu chí ưu đãi được xác định là dự án đầu tư thuộc lĩnh vực khuyến khích hoặc địa bàn ưu đãi đầu tư. Các dự án đầu tư mở rộng cũng được áp dụng và được lựa chọn hoặc áp dụng quy định về thuế suất có thời 5 hạn, miễn giảm thuế có thời hạn đối với phần thu nhập tăng thêm do đầu tư mở rộng mang lại hoặc áp dụng mức ưu đãi chung cho toàn bộ dự án trước đây đã được ưu đãi đầu tư (nếu còn thời gian ưu đãi).” “Bên cạnh những đổi mới mang tính tích cực trong lộ trình cải cách chính sách thuế của Chính phủ, góp phần tạo môi trường pháp lý công bằng, bình đẳng, phù hợp với thông lệ quốc tế với mục tiêu nâng cao hiệu quả, khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài, việc áp dụng và thích ứng với những thay đổi này trên thực tiễn nhìn từ góc độ doanh nghiệp vẫn tồn tại nhiều khó khăn, vướng mắc, đặc biệt là nhóm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Những bất cập về thể chế chính sách và quản lý thuế chưa được giải quyết triệt để và chưa thể hiện đầy đủ sự minh bạch trong thực thi khiến nhiều doanh nghiệp còn cảm thấy lúng túng trong quá trình tuân thủ pháp luật thuế tại Việt Nam hoặc trở thành kẽ hở để các doanh nghiệp tìm cách gian lận, lách luật, dẫn đến thất thu NSNN. Một trong những bài toán đặt ra cho các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý Nhà nước là vấn đề về thiếu hụt nguồn lực trong công tác quản lý. Do vậy, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã và đang đẩy mạnh cải cách, hiện đại hoá các lĩnh vực quản lý Nhà nước, mà thuế là một trong những lĩnh vực được ưu tiên hàng đầu. Trong đó, tăng cường công tác tuyên truyền, hỗ trợ và cung cấp dịch vụ cho NNT thông qua việc kêu gọi sự tham gia của các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước là một trong những nội dung cơ bản.
Ở nước ta, dịch vụ thuế không phải là khái niệm mới xuất hiện, nó tồn tại từ khi nền kinh tế thực hiện mở cửa và hội nhập. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, số lượng các doanh nghiệp ngày càng gia tăng, kéo theo nhu cầu đối với dịch vụ thuế ngày càng lớn. Với tư cách là một trong những phương tiện hỗ trợ thiết thực cho công tác quản lý thuế, đồng thời cũng là một loại hình kinh doanh triển vọng, tìm hiểu về dịch vụ thuế tư được xem là vấn 6 đề quan trọng và cần thiết. Trong vài năm trở lại đây đã xuất hiện khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến dịch vụ thuế, qua đó thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và cơ quan quản lý thuế ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Tuy nhiên, các công trình chỉ mới nghiên cứu về dịch vụ thuế trong bối cảnh về quản lý thuế nói chung, xem xét về dịch vụ thuế trong mối quan hệ đan xen với các biện pháp, chức năng quản lý thuế khác, ít có công trình nghiên cứu chuyên sâu, riêng biệt cũng như đầy đủ và toàn diện về hoạt động cung cấp dịch vụ thuế tại một tổ chức cụ thể, với tư cách là cầu nối trung gian giữa cơ quan thuế và doanh nghiệp. Có thể thấy, tập trung khai thác từ khía cạnh này sẽ mang đến góc nhìn mới mẻ trong việc đánh giá tổng thể về thực trạng cung cấp dịch vụ hỗ trợ thuế ở nước ta nhằm đưa ra giải pháp hữu hiệu để tạo điều kiện khuyến khích, thúc đẩy dịch vụ thuế phát triển ở Việt Nam trong thời gian tới. Công ty TNHH Thuế và Tư vấn KPMG (Việt Nam) là một công ty thành viên của KPMG Quốc tế - mạng lưới toàn cầu chuyên nghiệp, cung cấp các dịch vụ Kiểm toán, Thuế, Pháp lý và Tư vấn. Với hơn 28 năm kinh nghiệm trong công tác hỗ trợ các doanh nghiệp trong quá trình tuân thủ pháp luật thuế tại Việt Nam, KPMG được đánh giá là một trong những công ty tư vấn và cung cấp dịch vụ hàng đầu trong lĩnh vực thuế.
Đối tượng khách hàng của KPMG rất đa dạng, bao gồm các tổ chức kinh tế, cơ quan chính phủ và khu vực công, các tổ chức phi lợi nhuận, trong đó, chủ yếu là các doanh nghiệp nước ngoài. Nhìn nhận từ góc độ thực tiễn, bên cạnh những thuận lợi về môi trường pháp lý, sự đón nhận của thị trường đối với các dịch vụ tư vấn thuế cùng với những lợi thế kinh doanh của mình, hoạt động tư vấn, hỗ trợ về thuế tại Công ty TNHH Thuế và Tư vấn KPMG vẫn tồn tại nhiều khó khăn, hạn chế, đặc biệt đối với nhóm khách hàng chiến lược là các doanh nghiệp nước ngoài. Nhận thức được cơ hội khai thác và tầm quan trọng của vấn đề, tôi đã lựa chọn phân 7 tích chi tiết về vấn đề Dịch vụ thuế TNDN cho các Công ty có vốn đầu tư nước ngoài trong luận văn này.” Sau khi tập hợp và nghiên cứu một số tài liệu liên quan đến luật thuế TNDN, có thể thấy có nhiều các công trình nghiên cứu về hoàn thiện và phát triển dịch vụ tư vấn thuế tại Việt Nam nói chung, có thể kể đến như: - Lê Xuân Trường (2022), Phát triển lành mạnh dịch vụ thuế ở Việt Nam Bài viết đã hệ thống hóa được những lý luận cơ bản về dịch vụ thuế, bao gồm sự cần thiết của dịch vụ thuế, khái quát quy định pháp luật quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ thuế ở Việt Nam, những nội dung cơ bản cơ dịch vụ tư vấn thuế và đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện dịch vụ thuế tại Việt Nam. - Âu Thị Nguyệt Liên (2021), Nghiên cứu dịch vụ hỗ trợ thuế và sự tuân thủ thuế của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế - Luận án Tiến sỹ Trường Đại học Kinh tế Huế.
Luận án nhận diện được các điểm mạnh, điểm yếu, các “khoảng trống” còn thiếu hụt trong quá trình thực hiện cung cấp dịch vụ thuế; Luận án lượng hóa được mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ thuế và tuân thủ thuế thông qua một số yếu tố trung gian như sự hài lòng, kiến thức thuế, niềm tin của doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với cơ quan thuế đồng thời Luận án đưa ra những hàm ý về mặt chính sách hay những giải pháp nhằm hỗ trợ và giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa tuân thủ thuế tốt hơn trong thời gian tới; Xây dựng chiến lược dịch vụ thuế gắn với sự hài lòng hay nâng cao kiến thức thuế và niềm tin thuế của doanh nghiệp nhỏ và vừa; Quản lý thuế rủi ro gắn với dịch vụ thuế để gia tăng tuân thủ thuế của doanh nghiệp nhỏ và vừa. - Nguyễn Cẩm Tâm (2013), Phát triển dịch vụ thuế ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay - Luận án tiến sỹ Học viện Tài chính. 8 Luận án đã trình bày tổng quan về dịch vụ thuế ở Việt Nam, đặc biệt nhấn mạnh đến những bài học kinh nghiệm rút ra từ những quốc gia đi trước về tính thiết yếu khi xây dựng hành lang pháp lý cho cá nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thuế tại Việt Nam, các cách thức hoạt động của dịch vụ thuế…. Thông qua việc đánh giá thực trạng cung cấp dịch vụ thuế tại Việt Nam, luận án đã nêu lên những thành tựu đạt được trong công tác này cũng như chỉ ra những bất cập trong quá trình phát triển dịch vụ.
Khi hiểu rõ những hạn chế về quy định pháp luật liên quan đến việc hành nghề dịch vụ thuế, về sự thiếu tin tưởng, quan tâm của NNT đối với tổ chức, cá nhân hành nghề… tác giả đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao cả về số lượng và chất lượng dịch vụ thuế nói chung ở Việt Nam” - Minh Nhật (2020), “Đại lý thuế muốn phát triển, phải tư vấn đúng pháp luật thuế” - Thời báo Tài chính Việt Nam, chuyên mục Thuế và đời sống.