Chương 1 : HỆ THỐNG THÔNG TIN DI ĐỘNG 1. Tổng quan về hệ thống thông tin di động Công nghệ thông tin di động được khởi nguồn từ những kỹ thuật truyền dẫn không dây. Lúc đầu truyền thông vô tuyến được sử dụng khá rộng rãi nhờ ưu điểm không cần đường truyền cáp nhưng các thiết bị sử dụng hầu hết đều được đặt cố định. Rae Young hai kỹ sư của Bell Labs đã đề T 13 T 13 xuất cấu trúc ô lục giác cho mạng di động.
Trong khi đó Philip T. Porter, cũng thuộc Bell Labs đề xuất sử dụng anten định hướng theo 3 hướng. Tuy nhiên những đề xuất này bị đi vào quên lãng cho đến tận những năm của thập kỷ 60 khi Richard H. Frenkiel và Joel S.
Engel của Bell Labs phát triển các cấu trúc điện tử. Tại châu Âu, điện thọai không dây lần đầu tiên được sử dụng cho các hành khách hạng nhất trên các chuyến tàu giữa Berlin và Hamburg năm 1926. Cùng lúc đó, điện thoại vô tuyến được sử dụng trên các chuyến bay để hỗ trợ an toàn trên đường bay. Sau đó điện thoại vô tuyến được sử dụng rộng rãi tại Đức trong thế chiến lần thứ II.
Hệ thống điện thoại di động đầu tiên được gọi là MTA (Mobile Telephone system A) được phát triển bởi Ericsson và được triển khai tại Thụy Điển năm 1956. Với hệ thống này các điện thoại có trọng lượng khá lớn, khoảng 49kg. MTB, được nâng cấp từ MTB được sử dụng năm 1965 và sử dụng báo hiệu DTMF (đa tần song âm). Năm 1967 mỗi chiếc điện thoại di động được nằm trong vùng phủ sóng của một trạm gốc duy nhất trong suốt quá trình gọi.
Đến năm 1970 hệ thống “call handoff” cho phép các máy điện thoại có thể di chuyển giữa các vùng trong suốt thời gian đàm thoại. Sau đó AT&T gửi đề xuất về dịch vụ di động theo cấu trúc tổ ong lên hiệp hội viễn thông lien bang và được chấp nhận, hệ thống AMPS ra đời và được cấp dải tần 824-894 MHz. Hệ thống AMPS tương tự sau đó được thay thế bởi AMPS số vào năm 1990. Đây có thể coi là một trong những thế hệ đầu tiên của thông tin di động.
Trần Văn Hoàn 1 CHĐT 2008 - 2010 Luận văn tốt nghiệp Dịch vụ định vị Vào những năm của thập kỷ 90 các hệ thống như GSM, IS-136 ("TDMA"), iDEN và IS-95 ("CDMA") bắt đầu được triển khai và được coi như thế hệ thông tin di động thứ 2. Mạng GSM đầu tiên mở tại Phần Lan. Công nghệ sử dụng trong GSM là đa truy nhập ghép kênh theo thời gian trong khi mạng CDMA sử dụng công nghệ đa truy nhập ghép kênh phân chia theo mã. Với GSM mỗi kênh thông tin được phát trên một khe thời gian, do đó hệ thống phải áp dụng cơ chế tái sử dụng tần số để tăng số lượng thuê bao.
Tuy nhiên khả năng đáp ứng thuê bao trong GSM vẫn bị giới hạn trong khi đó hệ thống IS-95 sử dụng cơ chế phân chia theo mã, mỗi người dùng được phát một mã giả ngẫu nhiên để điều chế tín hiệu và cùng sử dụng chung một dải tần số như vậy khả năng đáp ứng số lượng lớn thuê bao của IS-95 cao hơn GSM. Trong các hệ thống này báo hiệu SS7 được sử dụng để tăng hiệu quả liên lạc trong mạng. Sau khi hệ thống thông tin di động 2G ra đời và đạt được những thành công to lớn. Người ta nghĩ ngay đến một thế hệ thông tin di động 3G với những dịch vụ tiên tiến hơn.
Các dự án nghiên cứu về 3G được thành lập. Trong khi chuẩn 3G nhanh chóng được thông qua trong hệ thống IMT-2000 thì quá trình nghiên cứu thực thi và triển khai thử nghiệm đã phải trải qua một thời gian khá lâu. Trong khi GSM giới thiệu các công nghệ GPRS và EDGE cho quá trình tiến lên 3G thì các công nghệ này vẫn chỉ được chấp nhận một cách không chính thức là chuẩn 2. Chỉ khi 3GPP đưa ra các tiêu chí kỹ thuật cho UMTS với tốc tốc độ 2Mbps và khả năng kết hợp với giao diện vô tuyến GERAN của GSM/EDGE thì lúc này thế giới mới công nhanạ chuẩn 3G GSM/UMTS.
UMTS sử dụng cả hai giao diện vô tuyến UTRAN và GERAN, với UTRAN công nghệ WCDMA được sử dụng kết hợp với cơ chế song công phân chia theo thời gian hoặc song công phân chia theo tần số. Giao diện GERAN là giao diện cũ mạng GSM, điều này cho phép các thuê bao GSM cũ có thể sử dụng hệ thống UMTS mà không cần phải thay đổi thuê bao. Với CDMA, quá trình đi lên 3G gắn liền với sự phát triển của hệ thống CDMA 2001x được triển khai hiệu quả tại Hàn Quốc. Trần Văn Hoàn 2 CHĐT 2008 - 2010 Luận văn tốt nghiệp Dịch vụ định vị 1.
Hệ thống thông tin di động toàn cầu GSM Hệ thống thông tin di động toàn cầu (tiếng Anh: Global System for Mobile Communications; tiếng Pháp: Groupe Spécial Mobile; viết tắt: GSM) là một công nghệ dùng cho mạng thông tin di động. Dịch vụ GSM được sử dụng bởi hơn 2 tỷ người trên 212 quốc gia và vùng lãnh thổ. Các mạng thông tin di động GSM cho phép có thể roaming với nhau do đó những máy điện thoại di động GSM của các mạng GSM khác nhau có thể sử dụng được nhiều nơi trên thế giới. GSM là chuẩn phổ biến nhất cho điện thoại di động (ĐTDĐ) trên thế giới.
Khả năng phát sóng rộng khắp nơi của chuẩn GSM làm cho nó trở nên phổ biến trên thế giới, cho phép người sử dụng có thể sử dụng ĐTDĐ của họ ở nhiều vùng trên thế giới. GSM khác với các chuẩn tiền thân của nó về cả tín hiệu và tốc độ, chất lượng cuộc gọi. Nó được xem như là một hệ thống ĐTDĐ thế hệ thứ hai (second generation, 2G). GSM là một chuẩn mở, hiện tại nó được phát triển bởi 3rd Generation Partnership Project (3GPP) Đứng về phía quan điểm khách hàng, lợi thế chính của GSM là chất lượng cuộc gọi tốt hơn, giá thành thấp và dịch vụ tin nhắn.
Thuận lợi đối với nhà điều hành mạng là khả năng triển khai thiết bị từ nhiều người cung ứng. GSM cho phép nhà điều hành mạng có thể sẵn sàng dịch vụ ở khắp nơi, vì thế người sử dụng có thể sử dụng điện thoại của họ ở khắp nơi trên thế giới. Lịch sử Vào đầu thập niên 1980 tại châu Âu người ta phát triển một mạng điện thoại di động chỉ sử dụng trong một vài khu vực. Sau đó vào năm 1982 nó được chuẩn hoá bởi CEPT (European Conference of Postal and Telecommunications Administrations) và tạo ra Groupe Spécial Mobile (GSM) với mục đích sử dụng chung cho toàn Châu Âu.
Mạng điện thoại di động sử dụng công nghệ GSM được xây dựng và đưa vào sử dụng đầu tiên bởi Radiolinja ở Phần Lan. Vào năm 1989 công việc quản lý tiêu chuẩn vá phát triển mạng GSM được chuyển cho viện viễn thông châu Âu (European Telecommunications Standards Institute - ETSI), và các tiêu chuẩn, đặc tính phase 1 của công nghệ GSM được Trần Văn Hoàn 3 CHĐT 2008 - 2010 Luận văn tốt nghiệp Dịch vụ định vị công bố vào năm 1990. Vào cuối năm 1993 đã có hơn 1 triệu thuê bao sử dụng mạng GSM của 70 nhà cung cấp dịch vụ trên 48 quốc gia.Cấu trúc mạng GSM Hình 1-1: Sơ đồ mạng GSM Các kí hiệu: U OSS : Hệ thống khai thác và hỗ trợ. SS : Hệ thống chuyển mạch.
AUC : Trung tâm nhận thực VLR : Bộ ghi định vị tạm trú HLR : Bộ ghi định vị thường trú EIR : Thanh ghi nhận dạng thiết bị MSC : Trung tâm chuyển mạch các nghiệp vụ di động (Tổng đài vô tuyến) BSS : Hệ thống trạm gốc Trần Văn Hoàn 4 CHĐT 2008 - 2010 Luận văn tốt nghiệp Dịch vụ định vị BTS : Trạm vô tuyến gốc BSC : Trung tâm điều khiển gốc MS : Máy di động. OMC : Trung tâm khai thác và bảo dưỡng. ISDN : Mạng dịch vụ số tích hợp. PSPDN : Mạng chuyển mạch số công cộng theo gói CSPDN : Mạng chuyển mạch số công cộng theo mạch PSTN : Mạng điện thoại chuyển mạch công cộng PLMN : Mạng di động mặt đất công cộng Hệ thống GSM được phân chia thành 3 phân hệ: Phân hệ chuyển mạch, phân hệ trạm gốc và phân hệ vận hành bảo dưỡng.
Tuy nhiên phân hệ vận hành bảo dưỡng chỉ có ý nhĩa đối với nhà cung cấp. Phân hệ trạm gốc BSS Là một hệ thống đặc thù riêng cho tính chất tổ ong vô tuyến của GSM. BSS giao diện trực tiếp với các trạm di động thông qua giao diện vô tuyến, vì thế nó bao gồm các thiết thị thu/phát vô tuyến và quản lý các chức năng này. Mặt khác BSS thực hiện giao diện với các tổng đài của phân hệ chuyển mạch SS.
Tóm lại BSS thực hiện việc đấu nối các MS với tổng đài và nhờ vậy đấu nối người sử dụng các trạm di động với những người dử dụng viễn thông khác. BSS cũng phải được điều khiển, do đó nó được đấu nối với phân hệ vận hành bảo dưỡng OSS. BSS bao gồm hai loại thiết bị là: BTS giao diện với MS và BSC giao diện với MSC - Khối trạm thu phát gốc (BTS): Một BTS bao gồm các thiết bị thu phát, anten và các bộ xử lý tín hiệu đặt thù cho giao diện vô tuyến. BTS là thiết bị trung gian giữa mạng GSM và các thiết bị thuê bao MS, trao đổi thông tin với MS qua giao diện vô tuyến.
Có thể coi BTS là các Modem vô tuyến phức tạp có thêm một số các chức năng khác. Mỗi BTS tạo ra một hay một số khu vực vùng phru sóng nhất định gọi là tế bào (cell). Một bộ phận quan trọng của BTS là khối chuyển đổi mã và thích ứng tốc độ (TRAU – Transcode/Rate Adapter Unit). Trần Văn Hoàn 5 CHĐT 2008 - 2010 Luận văn tốt nghiệp Dịch vụ định vị - TRAU là thiết bị mà ở đó quá trình mã hóa và giải mã tiếng đặc thù cho GSM được tiến hành, tại đây cũng thực hiện việc thích ứng tốc độ trong trường hợp truyền số liệu.
TRAU là một bộ phận của BTS và được điều khiển bởi BTS nhưng cũng có thể đặt cách xa BTS và thậm chí còn đặt trong BSC và MSC. TRAU chuyển đổi mã thông tin từ các kênh vô tuyến (16Kb/s) theo tiêu chuẩn GSM thành các kênh thoại tiêu chuẩn (64Kb/s) trước khi chuyển đến tổng đài. - Khối BSC (Base Station Controller): có nhiệm vụ quản lý tất cả giao diện vô tuyến thông qua các lệnh điều khiển từ xa. Các lệnh này chủ yếu là lệnh ấn định, giải phóng kênh vô tuyến và chuyển giao.