Luận văn địa vị pháp lý người chấp hành án không tước tự do - Hòa Bình

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu địa vị pháp lý người chấp hành án không tước tự do theo Luật thi hành án hình sự Việt Nam qua thực tiễn tỉnh Hòa Bình

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ luật học

2015

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Địa vị pháp lý người chấp hành án không tước tự do là gì

Địa vị pháp lý người chấp hành án không tước tự do là khái niệm trung tâm trong Luật thi hành án hình sự Việt Nam, phản ánh tổng thể quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của cá nhân đang thi hành các hình phạt không kèm theo việc giam giữ. Theo Luật thi hành án hình sự năm 2010, nhóm đối tượng này bao gồm người bị xử phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân hoặc trục xuất. Khác với người chấp hành án tù, họ không bị tước quyền tự do mà vẫn sinh hoạt trong cộng đồng. Tuy nhiên, họ phải tuân thủ các nghĩa vụ do pháp luật quy định và chịu sự giám sát, quản lý của cơ quan thi hành án hình sự và chính quyền địa phương. Địa vị pháp lý của họ là sự kết hợp giữa tư cách công dân và tư cách người đang thi hành án, do đó vừa được bảo vệ quyền con người, vừa bị giới hạn một số quyền nhất định nhằm đảm bảo hiệu lực thi hành án. Nghiên cứu của Hồ Xuân Huy (2015) tại tỉnh Hòa Bình cho thấy, nhiều người chấp hành án không tước tự do chưa nhận thức đầy đủ về địa vị pháp lý của mình, dẫn đến vi phạm nghĩa vụ hoặc không biết cách bảo vệ quyền lợi hợp pháp. Việc làm rõ khái niệm này là cơ sở để xây dựng chính sách quản lý, giáo dục và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng hiệu quả.

1.1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý cơ bản

Người chấp hành án không tước tự do là chủ thể chịu hình phạt hình sự nhưng không bị giam giữ. Đặc điểm nổi bật là họ vẫn sinh sống tại nơi cư trú, làm việc bình thường, nhưng phải báo cáo định kỳ và tuân thủ các quy định quản lý. Pháp luật quy định rõ họ có quyền được bảo vệ nhân phẩm, quyền lao động, học tập, nhưng đồng thời phải thực hiện nghĩa vụ như chấp hành án, báo cáo với cơ quan chức năng và không được vi phạm các điều kiện kèm theo bản án.

1.2. Phân biệt với các nhóm người chấp hành án khác

Khác với người bị tước tự do (tù giam), người chấp hành án không tước tự do không bị cách ly khỏi xã hội. So với người bị hạn chế tự do, họ có mức độ ràng buộc pháp lý thấp hơn. Việc phân biệt rõ các nhóm này giúp xác định chính xác địa vị pháp lý, từ đó áp dụng đúng quyền và nghĩa vụ theo từng loại hình phạt.

II. Thách thức trong đảm bảo địa vị pháp lý người chấp hành án không tước tự do

Mặc dù Luật thi hành án hình sự năm 2010 đã quy định tương đối đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của người chấp hành án không tước tự do, thực tiễn thi hành vẫn bộc lộ nhiều thách thức pháp lý và xã hội. Nghiên cứu tại tỉnh Hòa Bình (2010–2014) cho thấy tỷ lệ người chấp hành án không tước tự do vi phạm nghĩa vụ hoặc bỏ trốn khá cao, đặc biệt ở nhóm dân tộc thiểu số có trình độ dân trí thấp. Nhiều người không hiểu rõ quyền khiếu nại, quyền được xóa án tích hoặc miễn, giảm thời gian chấp hành án, dẫn đến thiệt thòi trong quá trình thi hành án. Bên cạnh đó, cơ quan thi hành án hình sự địa phương còn thiếu nhân lực chuyên môn, phương tiện giám sát và phối hợp lỏng lẻo với chính quyền cơ sở. Điều này làm giảm hiệu quả quản lý và ảnh hưởng tiêu cực đến địa vị pháp lý của người chấp hành án. Một vấn đề nổi cộm là sự thiếu đồng bộ giữa lập pháp và thực tiễn, khi nhiều quy định pháp luật dù rõ ràng nhưng khó áp dụng do thiếu hướng dẫn cụ thể hoặc do điều kiện địa phương hạn chế. Việc không đảm bảo đầy đủ quyền lợi pháp lý không chỉ vi phạm nguyên tắc bảo vệ quyền con người, mà còn làm suy giảm niềm tin vào công lý và hệ thống tư pháp.

2.1. Hạn chế trong nhận thức pháp luật của người chấp hành án

Nhiều người chấp hành án không hiểu rõ nghĩa vụ pháp lý, dẫn đến vi phạm vô ý. Đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, trình độ hiểu biết pháp luật thấp khiến họ không biết cách khiếu nại hành vi vi phạm hoặc yêu cầu xem xét giảm án tích. Đây là rào cản lớn trong việc đảm bảo địa vị pháp lý đầy đủ.

2.2. Yếu kém trong năng lực quản lý của cơ quan chức năng

Cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện thường thiếu nhân sự được đào tạo bài bản. Việc giám sát, giáo dục người chấp hành án không tước tự do trở nên hình thức, thiếu hiệu quả. Sự phối hợp với chính quyền xã, phường chưa chặt chẽ, dẫn đến bỏ sót hoặc xử lý chậm vi phạm.

III. Phương pháp nâng cao hiệu quả đảm bảo địa vị pháp lý người chấp hành án không tước tự do

Để nâng cao hiệu quả đảm bảo địa vị pháp lý người chấp hành án không tước tự do, cần áp dụng đồng bộ nhiều phương pháp pháp lý và xã hội. Trước hết, cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật trực tiếp đến từng đối tượng, đặc biệt tại vùng dân tộc thiểu số. Các buổi hướng dẫn nên sử dụng ngôn ngữ địa phương và hình thức trực quan, dễ hiểu. Thứ hai, cơ quan thi hành án hình sự cần được tăng cường nguồn lực, đào tạo chuyên sâu về kỹ năng quản lý, giám sát và hỗ trợ tái hòa nhập. Thứ ba, cần xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành giữa cơ quan thi hành án, công an, chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội. Nghiên cứu của Hồ Xuân Huy (2015) đề xuất mô hình “cộng đồng cùng tham gia quản lý”, trong đó người dân, tổ dân phố, hội phụ nữ, đoàn thanh niên đóng vai trò hỗ trợ, giám sát và động viên người chấp hành án. Cuối cùng, cần sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án hình sự theo hướng cụ thể hóa quyền lợi, như quy trình xét miễn, giảm án, xóa án tích tự động hoặc hỗ trợ việc làm sau khi hoàn thành án. Những giải pháp này không chỉ nâng cao hiệu lực thi hành án mà còn bảo vệ quyền con ngườidân chủ pháp lý cho người chấp hành án.

3.1. Tăng cường phổ biến giáo dục pháp luật

Tổ chức các buổi tuyên truyền pháp luật định kỳ, sử dụng phương tiện truyền thông địa phương và phiên dịch tiếng dân tộc. Nội dung tập trung vào quyền và nghĩa vụ khi chấp hành án, cách thức khiếu nại, và thủ tục xóa án tích.

3.2. Đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ thi hành án

Xây dựng chương trình đào tạo chuyên sâu về quản lý người chấp hành án không tước tự do, bao gồm kỹ năng giao tiếp, giám sát cộng đồng và phối hợp liên ngành. Đảm bảo cán bộ hiểu rõ địa vị pháp lý để hướng dẫn đúng cho đối tượng.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu tại tỉnh Hòa Bình

Nghiên cứu thực tiễn tại tỉnh Hòa Bình (2010–2014) cung cấp bằng chứng thực địa quý giá về tình hình chấp hành án không tước tự do. Theo Bảng 2.1 trong luận văn của Hồ Xuân Huy, số lượng người chấp hành án cảnh cáo, phạt tiền và cải tạo không giam giữ có xu hướng biến động theo năm, phản ánh tính phức tạp của công tác quản lý. Nhiều trường hợp bỏ trốn hoặc tái phạm, đặc biệt trong nhóm thanh niên và người dân tộc Mường. Tuy nhiên, tại một số địa phương như huyện Lương Sơn, mô hình phối hợp giữa cơ quan thi hành án và tổ dân phố đã giúp giảm tỷ lệ vi phạm xuống 30%. Các giải pháp thực tiễn như lập hồ sơ theo dõi cá nhân, tổ chức gặp gỡ định kỳ và hỗ trợ việc làm đã cho thấy hiệu quả rõ rệt. Kết quả này chứng minh rằng địa vị pháp lý không chỉ là vấn đề pháp lý thuần túy, mà còn gắn liền với yếu tố xã hội và kinh tế. Việc lồng ghép hỗ trợ sinh kế vào quá trình thi hành án giúp người chấp hành án ổn định cuộc sống, từ đó tuân thủ pháp luật tốt hơn. Những bài học từ Hòa Bình có thể nhân rộng ra toàn quốc, nhất là ở các tỉnh miền núi, vùng sâu vùng xa.

4.1. Số liệu thực tiễn và xu hướng biến động

Từ năm 2010–2014, số người chấp hành án không tước tự do tại Hòa Bình dao động từ 120–180 người/năm. Tỷ lệ vi phạm nghĩa vụ chiếm khoảng 15–20%, cao nhất ở nhóm cải tạo không giam giữ. Dữ liệu này phản ánh thách thức trong quản lý và nhu cầu cải tiến chính sách.

4.2. Mô hình quản lý hiệu quả tại địa phương

Mô hình “giám sát cộng đồng” tại Lương Sơn cho thấy hiệu quả khi tổ dân phố tham gia theo dõi, động viên và báo cáo kịp thời. Kết hợp với hỗ trợ việc làm, tỷ lệ tái phạm giảm đáng kể. Đây là minh chứng cho vai trò của xã hội hóa thi hành án.

V. Hướng hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý người chấp hành án không tước tự do

Hoàn thiện pháp luật là giải pháp căn cơ để đảm bảo địa vị pháp lý người chấp hành án không tước tự do một cách toàn diện. Luật thi hành án hình sự năm 2010 dù tiến bộ nhưng vẫn còn khoảng trống pháp lý, đặc biệt trong quy định về quyền được hỗ trợ tái hòa nhập, cơ chế giám sát quyền lợitrách nhiệm bồi thường khi cơ quan chức năng vi phạm. Cần sửa đổi luật theo hướng cụ thể hóa quyền con người, như quy định rõ thời hạn xét xóa án tích, điều kiện miễn giảm án, và nghĩa vụ của nhà nước trong việc bảo đảm sinh kế cho người chấp hành án. Đồng thời, cần ban hành văn bản hướng dẫn thi hành chi tiết, tránh tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”. Nghị quyết 49-NQ/TW về cải cách tư pháp nhấn mạnh yêu cầu minh bạch, công bằng và nhân đạo trong thi hành án – nguyên tắc này phải được hiện thực hóa trong từng điều luật. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về người chấp hành án cũng là bước đi cần thiết để quản lý tập trung, minh bạchbảo vệ quyền lợi pháp lý lâu dài.

5.1. Đề xuất sửa đổi Luật thi hành án hình sự

Cần bổ sung điều khoản về quyền được hỗ trợ việc làm, hướng dẫn pháp lý miễn phícơ chế khiếu nại độc lập. Đồng thời, làm rõ trách nhiệm pháp lý của cơ quan thi hành án khi vi phạm quyền của người chấp hành án.

5.2. Xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá độc lập

Thành lập ban giám sát thi hành án cấp tỉnh, có sự tham gia của đại diện nhân dân và tổ chức xã hội. Hệ thống này sẽ đánh giá định kỳ việc đảm bảo địa vị pháp lý và đề xuất cải tiến chính sách.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn địa vị pháp lý của người chấp hành án không bị tước tự do trong luật thi hành án hình sự việt nam trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh hòa bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: MỘT SỐ VẬN DÈ LÝ LUẬN VỀ DỊA VỊ PHÁP LÝ CÚA NGƯỜI CHÁP HÀNH ÁN KHÔNG BỊ TƯỚC TỰ DO. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIẾM ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI CHAP HÀẢNH ÁX KHÔNG BỊ TƯỚC TỰ DO. Khái niêm người chấp hành án không bị tước tự do. Khai niém địavị pháp lý cửa người chấp hành án không bị tước tự do.

Đặc điểm địa vị pháp lý của người chấp bảnh án không bị tước tự do. MỘT SỐ NÉT VÉ LỊCH SỬ PHÁT TRIẾN CỨA CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬI VỆ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CÚA NGƯỜI CHẮP HÀNH ÁN KHÔNG BỊ TƯỚC TỰ DO - - - 18 1. Giai đoạn từ tháng 8/1945 đến năm 1992 18 Giai doạn từ năm 1992 tới trước khi nghĩ dịnh 60/2000/`Đ-CP ngày 30/10/2000 có hiệu lực pháp luật. MỘT SỐ CHUÄK MỰC QUOC TE VE BIA VL PHAP LY CUA NGƯỜI CHẮP HANH AN KHONG BI TUSC TUDO.

lạbì Chuong 2: THUC TRANG PHAP LUAT THI HANH AN HINH SU VE DIA VỊ PHAP LY CUA NGUO] CHAP HANH AN KHONG BI TUOC TU DO VA THC TIEN AP DUNG TREN DIA BAN TỈNH HÒA BÌNH _ - 29 2. CAC QUY DINIT PEAP LUAT THE TANT AN IIINII SY Vi DIA VỊ PHÁP I.Ý CUA NGUOI CHAP HANH AN KHÔNG BỊ TƯỚC TUDO. - - 29 DANH MUC CAC TU VIET TAT THARS: — Thi hanh an binh siz BLTTHS: Hộ luật tổ tụng hình sự TAND: Tòa án nhân dan URND: Uy ban nhan dan Quyền của người chấp hành án không bị tước tự do. Nghĩa vụ của người chấp hành án không bị tước tự đo.

THUC TRANG THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT THỊ HÀNH ÁN HÌNH SỰ VẺ VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI CIIAP TIANII AN KIIONG BỊ TƯỞC TỰ DO TRÊN DỊA BẢN TỈNH HÒA BỈÌRH. Đặc điểm vẻ dia ly, dan cu, kinh tội phạm trên dịa bản tính Hỏa Bình. Thực trạng thì hành pháp luật thì hành án hình sự về địa vị pháp lý cũ người chấp hành án không bị tước tự do trên địa bản tính Tòa Tinh MỘT SỐ TỒN TẠI, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN Mệt số tổn tại, hạn chế trong việc đâm bảo địa vị pháp lý của ngưi chấp hành án không bị tước tự do. Nguyên nhân của những tổn lại, hạn chế trong việc đảm bao dia vi pháp lý của người chấp hành án không bị tước tự đo Chương 3: GIẢI PIHÁP NÂNG CAO DẢM BẢO DỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA.

NGƯỜI CHẮP HẢNH ÁN KHÔNG BỊ TƯỚC TỰ DÓ. CƠ SỞ HOÀN THIỆN PHÁP T.UẬT THỊ HÀNH ÁN HÌNH SỰ VB DIA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI CIIÁP HÀNH ÀN KHÔNG BỊ TƯỚC TỰDO - 32. MỘT SỐ GIẢI PITÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY DỊNH CỦA PHÁP LUAT Vi DAM BAO DIA VỊ PHẮP LÝ CỦA NGƯỜI CHẤP. THÀNH ÁN KHÔNG BỊ TƯỚC TỰ DO Sửa đổi, bố sung những hạn chẻ bất cặp trong luật thực định.

Nghiên cứa lăng cường khả năng, điều kiện áp dụng và bổ sung cáo hình phạt không tước tự do trong Bộ luật hình sự Việt Nam. GIẢI PHÁP NẴNG NẴNG CAO HIỆU QUÁ ÁP DỤNG PHÁP T.UẬT THỊ VỀ BIA VỊ PHÁP I.Ý CỦA NGƯỜI CHẮP HANH AN KHÔNG BỊ TƯỚC TỰ ĐÓ,.Ö ¡86 Tăng cường sự lãnh dạo của Đâng. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan có thấm quyền trong thi hành án. Ting ouimg y thức chấp hành án dối với cá nhân người chấp hành án và với gia đình của họ - - 91 3.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trong viée dam bdo dia vi pháp lý của người chấp hành án không tước tự do 92 3. Đảm bão các điều kiện cần thiết vá có ché dộ chỉnh sách cho cản bộ lầm công táo tú hành án phại không tước bự đo - 93 3. Dây mạnh công tác tuyên truyền, phỏ biển, giáo dục pháp luật. 95 KET LUAN - - 98 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.

DANH MUC CAC TU VIET TAT THARS: — Thi hanh an binh siz BLTTHS: Hộ luật tổ tụng hình sự TAND: Tòa án nhân dan URND: Uy ban nhan dan vị pháp lý của người chấp hành án nói riêng dược ban hành rãi rác ở nhiều van ban pháp luật và ở những thời điểm khác nhau nên còn tắn mạn, hiệu lực pháp lý chưa cao, bộc lộ những hạn chế, bất cập và chưa đồng bộ, nhiều quy định không còn phù hợp và vẫn clrưa có sự thông nhất, phần lớn các hướng dẫn còn mang tinh đơn hanh, hướng dẫn cụ thể việc áp dụng hình phạt đối với từng loại nguời chấp hành án. Diéu xây làm giâm hiệu lực cũng như hiệu quả của công tác thì lành án, lạo sự khó khăn trong quả trinh áp dụng. Về mặt thực tiễn: Việc bảo đảm địa vị pháp lý của những người chấp hành. ám không bị tuốc tự do không chỉ cần có sự tham gia của các cơ quan thì hành án hình sự chuyên trách mả cân có sự tham gia của chính quyền địa phương, của các cơ quan nhà nước và các tổ chức, cá nhân kháo.

Việc quản lý, giám sát, giáo dục những người cỉ Ip bành án không bị tước tự do là vô cùng khó khăn, phúc tạp đôi hồi các chủ thể có chúc năng quyền hạn phải có chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, đông thời phái thực sự khách quan, trưng thực, huy động được sự tham gia cũa toàn xã hội. VỀ phía người chấp lành án nhiều quyền lợi mà bản thân họ được hưởng dã không được thực hiện triệt để trên thực tế như việc miễn, giám thời gian chấp hành an, việc xéL giảm thời hạn xóa án tích, việc khiếu nai, 16 cáo cách hành vi vi pham. củng với dó tỉnh trang người chấp hành án chưa tuân thủ những nghĩa vụ quy định trong pháp luật thí hành án vẫn diễn ra phỏ biến, cả biệt cô những trường hợp tối phạm hành vị phạm tội. Qua nghiên cứu trêu địa bản tĩnh Hòa Bình có thể thấy những người chấp hành án không bị bước tự do có sự biến động theo từng năm.

Công tác quản lý, giáo dục người chấp hành án của các cơ quan thi hành án vẫn tổn. tại nhiễu sai phạm, yếu kém. Thêm vào đỏ đa phân những người chấp hành án là những người đân tộc thiểu số, có dân trí thấp việc họ được bảo đăm quyền cing nhu thực biện nghĩa vụ trong quá trình thi hành án cỏn rất hạn chế. Như v xuất phát từ những hạn chế trong lý luận, lập pháp và thực tiểu cửa việc đảm bảo địa vị pháp lý của người chấp hanh an không bị tước tự do, ngoài ra trang bái cảnh Việt Nam đang thực hiện công cuộc cãi cách tư pháp theo tỉnh thân.

Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 0/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lực cải cách Lư cà MO PAU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày 17/6/2010 với sự ra dời của Luật th hành án hình sự đã dánh dâu một bước tiền lớn trong hoạt động lập pháp của Nhà nước ta nói chung, trong lĩnh vực Luật hình sự nói riêng, việc ra đời Luật thi bảnh án hình sự đã góp phan quan trong trong đầu tranh phòng, chống tội phạm, báo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an. toàn xã hội, đáp ng yêu cầu cải cách tư pháp cũng như bảo đảm tốt hon quyền tự do, đân chủ cửa công đân. Luật thì hành án hình sự năm 2010 đã quy định rõ về nguyên tắc, trinh tự, thủ tục, tổ clrức, nhiệm vụ, quyền han của cơ quan có thâm quyên trong thi hành bản án, quyết định có hiệu lực của tòa án, quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong (hi hanh án hình sự, biện pháp tự pháp, đặc biệt Luật thí hành án bình sự đã có những quy dịnh chỉ tiết, cụ thể, rõ ràng về địa vị pháp lý của người chấp hành án.

Về mặt lý luận: Địa vị pháp lý của người chấp hành án không bị tước tự đo vẫn chưa được quan tâm, chủ trọng nghiên cửu một cách toàn diện, hệ thông. Qua tìm hiểu, chủng tôi nhận thấy chưa có công trình khoa học trong nước nào nghiên cứu độc lập vấn dẻ nay, chưa dưa ra dược khái niêm cũng như các đặc diễm cơ bản. vẻ người chấp hành án không tước tự do nói chung và về địa vị pháp lý của người chấp hành án khóng tước tự do nói riêng. Việc phân biệt người chấp hành án không, tước bự do, địa vị pháp lý của hợ so với những người chấp hành án hạn chế tự do, người chấp hành án tuớc tụ do, người chấp hảnh án bị tước quyền sống chưa được thực hiện.

Xuất phát từ thực trạng trên việc nghiên cứu về địa vị pháp lý của người chấp hành án không bị tước tự do là một vấn đề búc tluết đặt ra. Về mặt lập pháp: Các quy định pháp luật biện hành tương đối đầy đủ, đâm. bão cho quá trình thì hành án hình sự đuợc diễn ra theo đúng trình tự, đúng mục đích dễ ra và nhất là đảm bảo dịa vị pháp lý của người chấp hành án đồng thời phan tảo đã đáp ứng được yêu cầu của các nghị quyết của Đảng vẻ cãi cách tư pháp. Tuy xhiên cững cần nhận định rằng các qt y định về thị hành án hình sự nói chung va dia MO PAU 1.

Tính cấp thiết của đề tài Ngày 17/6/2010 với sự ra dời của Luật th hành án hình sự đã dánh dâu một bước tiền lớn trong hoạt động lập pháp của Nhà nước ta nói chung, trong lĩnh vực Luật hình sự nói riêng, việc ra đời Luật thi bảnh án hình sự đã góp phan quan trong trong đầu tranh phòng, chống tội phạm, báo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an. toàn xã hội, đáp ng yêu cầu cải cách tư pháp cũng như bảo đảm tốt hon quyền tự do, đân chủ cửa công đân. Luật thì hành án hình sự năm 2010 đã quy định rõ về nguyên tắc, trinh tự, thủ tục, tổ clrức, nhiệm vụ, quyền han của cơ quan có thâm quyên trong thi hành bản án, quyết định có hiệu lực của tòa án, quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong (hi hanh án hình sự, biện pháp tự pháp, đặc biệt Luật thí hành án bình sự đã có những quy dịnh chỉ tiết, cụ thể, rõ ràng về địa vị pháp lý của người chấp hành án. Về mặt lý luận: Địa vị pháp lý của người chấp hành án không bị tước tự đo vẫn chưa được quan tâm, chủ trọng nghiên cửu một cách toàn diện, hệ thông.

Qua tìm hiểu, chủng tôi nhận thấy chưa có công trình khoa học trong nước nào nghiên cứu độc lập vấn dẻ nay, chưa dưa ra dược khái niêm cũng như các đặc diễm cơ bản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ