Nghiên Cứu Đề Xuất Biện Pháp Phòng Trừ Sâu Hại Thông Nhựa Tại Nghệ An

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu biện pháp phòng trừ sâu hại thông nhựa tại rừng phòng hộ Yên Thành, Nghệ An, góp phần bảo vệ môi trường.

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2018

94
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

2.1. Điều kiện tự nhiên

2.2. Vị trí địa lý

2.3. Địa hình địa thế. Đặc điểm về đất đai

2.4. Khí hậu thủy văn

2.5. Điều kiện dân sinh kinh tế

2.6. Thực bì và cây trồng

2.7. Tình hình quản lý rừng trồng, sinh trưởng phát triển của cây Thông tại khu vực nghiên cứu

3. MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Mục tiêu nghiên cứu

3.1.1. Mục tiêu chung

3.1.2. Mục tiêu cụ thể

3.2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.2.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2.2. Phạm vi nghiên cứu

3.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu

3.3.1. Nội dung nghiên cứu

3.3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.3.2.1. Phương pháp xử lý và giám định mẫu sâu hại
3.3.2.2. Phương pháp xử lý số liệu

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thành phần các loài sâu hại thông tại Yên Thành, Nghệ An

4.2. Xác định loài sâu hại chính

4.3. Đặc điểm hình thái và sinh học của loài sâu hại chính

4.3.1. Sâu đục ngọn thông

4.4. Nghiên cứu một số biện pháp phòng trừ sâu hại chính

4.4.1. Biện pháp kỹ thuật lâm sinh

4.4.2. Biện pháp cơ giới vật lý

4.4.3. Biện pháp sinh học

4.4.3.1. Sử dụng các chế phẩm sinh học
4.4.3.2. Sử dụng thuốc có nguồn gốc hoá học

4.5. Đề xuất một số biện pháp phòng trừ sâu hại chính tại Ban quản lý rừng phòng hộ Yên Thành

4.5.1. Những thuận lợi và khó khăn

4.5.2. Đề xuất một số biện pháp phòng trừ sâu hại chính

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Đề Xuất Biện Pháp Phòng Trừ Sâu Hại Thông Nhựa

Đề xuất biện pháp phòng trừ sâu hại thông nhựa tại Nghệ An là một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Sâu hại thông nhựa không chỉ ảnh hưởng đến năng suất cây trồng mà còn tác động đến môi trường sinh thái. Việc nghiên cứu và áp dụng các biện pháp phòng trừ hiệu quả sẽ giúp bảo vệ rừng thông, nâng cao giá trị kinh tế và bảo vệ môi trường.

1.1. Tình Hình Sâu Hại Thông Nhựa Tại Nghệ An

Tại Nghệ An, sâu hại thông nhựa đã gây ra thiệt hại lớn cho diện tích rừng trồng. Các loài sâu như Sâu róm thông và Sâu róm 4 túm lông thường xuyên xuất hiện, với tỷ lệ hại lên đến 73%. Việc nắm rõ tình hình sâu hại là cơ sở để đề xuất các biện pháp phòng trừ hiệu quả.

1.2. Ý Nghĩa Của Việc Phòng Trừ Sâu Hại

Phòng trừ sâu hại thông nhựa không chỉ giúp bảo vệ cây trồng mà còn đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp. Việc áp dụng các biện pháp phòng trừ hiệu quả sẽ góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm từ rừng thông.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Phòng Trừ Sâu Hại Thông Nhựa

Việc phòng trừ sâu hại thông nhựa gặp nhiều thách thức do sự đa dạng của các loài sâu hại và điều kiện khí hậu tại Nghệ An. Các biện pháp truyền thống thường không đủ hiệu quả, đòi hỏi cần có những giải pháp mới và sáng tạo.

2.1. Các Loại Sâu Hại Chính Gây Thiệt Hại

Các loài sâu hại chính như Sâu róm thông và Sâu róm 4 túm lông gây thiệt hại nghiêm trọng cho cây thông. Chúng không chỉ làm giảm năng suất mà còn ảnh hưởng đến chất lượng nhựa thu hoạch.

2.2. Điều Kiện Khí Hậu Ảnh Hưởng Đến Sâu Hại

Khí hậu tại Nghệ An có sự biến đổi lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của sâu hại. Nhiệt độ và độ ẩm cao là yếu tố chính thúc đẩy sự phát triển của các loài sâu hại này.

III. Phương Pháp Sinh Học Trong Phòng Trừ Sâu Hại Thông Nhựa

Phương pháp sinh học là một trong những giải pháp hiệu quả trong việc phòng trừ sâu hại thông nhựa. Việc sử dụng thiên địch và các chế phẩm sinh học giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.

3.1. Sử Dụng Thiên Địch Để Kiểm Soát Sâu Hại

Thiên địch như ong ký sinh và nấm bệnh có thể được sử dụng để kiểm soát quần thể sâu hại. Việc áp dụng thiên địch giúp giảm thiểu sự phụ thuộc vào hóa chất và bảo vệ hệ sinh thái.

3.2. Chế Phẩm Sinh Học Trong Phòng Trừ

Sử dụng các chế phẩm sinh học như nấm Beauveria bassiana và vi khuẩn Bacillus thuringiensis đã cho thấy hiệu quả cao trong việc phòng trừ sâu hại thông nhựa. Những chế phẩm này an toàn cho môi trường và không gây hại cho sức khỏe con người.

IV. Biện Pháp Kỹ Thuật Trong Phòng Trừ Sâu Hại Thông Nhựa

Các biện pháp kỹ thuật như trồng rừng hỗn giao và áp dụng công nghệ mới trong quản lý rừng là những giải pháp quan trọng trong việc phòng trừ sâu hại thông nhựa. Những biện pháp này không chỉ giúp tăng cường sức đề kháng của cây mà còn nâng cao hiệu quả kinh tế.

4.1. Trồng Rừng Hỗn Giao Để Tăng Cường Đề Kháng

Trồng rừng hỗn giao giữa thông và các loài cây khác giúp tăng cường sức đề kháng cho cây thông. Sự đa dạng sinh học trong rừng hỗn giao cũng làm giảm nguy cơ bùng phát sâu hại.

4.2. Ứng Dụng Công Nghệ Mới Trong Quản Lý Rừng

Việc áp dụng công nghệ mới như sử dụng bẫy đèn và các thiết bị giám sát giúp theo dõi và quản lý sâu hại hiệu quả hơn. Công nghệ này giúp phát hiện sớm sự xuất hiện của sâu hại và có biện pháp xử lý kịp thời.

V. Kết Quả Nghiên Cứu Và Ứng Dụng Thực Tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy các biện pháp phòng trừ sâu hại thông nhựa đã mang lại hiệu quả tích cực. Việc áp dụng đồng bộ các biện pháp sinh học và kỹ thuật đã giúp giảm thiểu thiệt hại do sâu hại gây ra.

5.1. Đánh Giá Hiệu Quả Các Biện Pháp Phòng Trừ

Các biện pháp phòng trừ đã được áp dụng tại Ban quản lý rừng phòng hộ Yên Thành cho thấy hiệu quả rõ rệt. Tỷ lệ sâu hại giảm đáng kể, giúp nâng cao năng suất cây trồng.

5.2. Ứng Dụng Kết Quả Nghiên Cứu Vào Thực Tiễn

Kết quả nghiên cứu đã được áp dụng vào thực tiễn quản lý rừng tại Nghệ An, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường. Các biện pháp phòng trừ được khuyến nghị áp dụng rộng rãi.

VI. Kết Luận Và Đề Xuất Hướng Nghiên Cứu Tương Lai

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy việc phòng trừ sâu hại thông nhựa là cần thiết và cấp bách. Đề xuất nghiên cứu thêm về các biện pháp mới và hiệu quả hơn trong tương lai sẽ giúp bảo vệ rừng thông bền vững.

6.1. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Liên Tục

Nghiên cứu liên tục về sâu hại thông nhựa và các biện pháp phòng trừ là rất quan trọng. Điều này giúp cập nhật thông tin và ứng dụng các công nghệ mới vào quản lý rừng.

6.2. Đề Xuất Hướng Nghiên Cứu Mới

Đề xuất nghiên cứu thêm về các loài thiên địch và chế phẩm sinh học mới có thể giúp nâng cao hiệu quả phòng trừ sâu hại thông nhựa trong tương lai.

01/07/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đề xuất biện pháp phòng trừ một số loài sâu hại thông nhựa tại ban quản lý rừng phòng hộ yên thành nghệ an

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Theo Quyết định số 3322/QĐ-BNN-TCLN của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ngày 28/7/2014 về việc công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2013, tính đến ngày 31/12/2013 tổng diện tích rừng của cả nước là 13,954 triệu ha mới đạt độ che phủ 41% với tổng diện tích rừng trồng là 3.294ha (Bộ NN và PTNT, 2014); trong đó diện tích trồng các loại thông chiếm khoảng 400. Với đặc điểm sinh lý, sinh thái của cây thông, một loại cây chịu hạn có thể sống và phát triển trên những lập địa xấu, khô hạn. Do đó, trong chương trình trồng rừng 327 và chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng, thông được chọn là cây trồng chính quan trọng cần được ưu tiên phát triển. Trong ba loại thông đang được sử dụng để khai thác nhựa ở nước ta thì Thông nhựa là loài cây cho nhiều nhựa nhất (khoảng 5- 6kg/cây/năm).

Mặt khác, với phương thức khai thác bằng cách đẽo máng, chu kỳ khai thác nhựa của loài thông này có thể kéo dài 40-50 năm. Vì vậy, mục đích kinh doanh chính của các rừng trồng thông nhựa ở nước ta hiện nay chủ yếu là để khai thác nhựa. Thông là loài cây có giá trị kinh tế cao bao gồm một số loài thông chính như Thông mã vĩ, Thông nhựa, Thông ba lá. Ngoài các sản phẩm của thông như gỗ, nhựa, nguyên liệu giấy, cây thông còn được sử dụng trong việc phủ xanh đất trống đồi núi trọc, có khả năng phòng hộ chống xói mòn, tạo không khí trong lành và là loài cây có dáng đẹp được trồng rất nhiều ở các khu du lịch, nghỉ mát.

Chính vì vậy, diện tích rừng thông ngày càng được mở rộng và là một trong những cây trồng chính của ngành Lâm nghiệp. Tuy nhiên, việc gây trồng và phát triển cây thông cũng gặp nhiều trở ngại, trong đó trở ngại lớn nhất là vấn đề sâu bệnh hại, nguy cơ về sâu bệnh hại thông không chỉ xảy ra tại rừng trồng mà còn xuất hiện tại cả vườn ươm. 2 Riêng về sâu hại đã điều tra được 45 loài, trong đó gây hại nguy hiểm nhất là loài Sâu róm thông (Dendrolimus punctatus Walker), Sâu róm 4 túm lông (Dasychira axutha) với tỷ lệ bị hại ở các địa phương đều trên 50% (đặc biệt ở Nghệ An lên tới 73%) và mức độ bị hại đều ở mức tương đối nguy hiểm và nguy hiểm (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, 2013). Ban quản lý rừng phòng hộ Yên Thành quản lý với diện tích rừng và đất rừng là 6.050,0 ha trong đó rừng thông là 1.000,0 ha vừa trồng thuần loài vừa trồng hỗn giao giữa thông và keo tai tượng, keo lá tràm hoặc bạch đàn, rừng thông có độ tuổi không đồng đều, trong đó hơn 500 ha tuổi V – VII và 500 ha tuổi II – III.

Ngoài diện tích rừng Ban quản lý còn có hàng trăm ha rừng của các xã Đồng Thành, Bắc Thành, Xuân Thành, Lăng Thành, Mã Thành, Tân Thành… Nhìn chung chủ yếu là các loài thông nhựa sinh trưởng và phát triển tốt. Trong những năm qua Ban quản lý rừng phòng hộ Yên Thành và Hạt Kiểm Lâm Yên Thành đã và đang phải đối mặt với các loài sâu hại, đặc biệt sâu róm thông lan tràn trên diện rộng gây nên những thiệt hại đáng kể trong kinh doanh và quản lý rừng địa phương. Xuất phát từ thực tế trên và mong muốn đóng góp một chút công sức của bản thân để giải quyết được phần nào vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đề xuất biện pháp phòng trừ một số loài sâu hại thông nhựa tại ban Quản lý rừng phòng hộ Yên Thành, Nghệ An”. Ý nghĩa của đề tài Ý nghĩa khoa học Đề tài cung cấp thành phần các loài sâu hại thông nhựa, xác dịnh được các loài sâu gây hại chính.

Đồng thời cung cấp một số dẫn liệu khoa học về đặc điểm sinh học sinh thái của loài gây hại chính và tiến hành thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ đối tượng gây hại chính làm cơ sở khoa học quan 3 trọng cho việc quản lý các loài sâu hại chính trên cây thông nhựa tại Yên Thành, Nghệ An. Ý nghĩa thực tiễn Đề tài cung cấp danh lục các loài sâu hại thông nhựa, xác định được các loài sâu hại chính trên cây thông nhựa tại Nghệ An. Đồng thời cung cấp những dẫn liệu khoa học về đặc điểm sinh học sinh thái của loài sâu gây hại chính góp phần quan trọng vào việc phòng trừ hiệu quả loài sâu hại này trên rừng thông nhựa tại Yên Thành, Nghệ An để nâng cao năng suất và quản lý rừng trồng thông bền vững. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.

Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1.Tình hình nghiên cứu về thành phần sâu hại thông Theo kết quả nghiên cứu của Beaver và Laosumthorm (1974) ở vùng Bắc Thái Lan đã xác định được 3 giống ong ăn lá thông là loài Diprion, Neodiprion và Gilpinia; Năm loài chủ yếu được định danh là Diprion hutacharernae, Neodiprion biremis, Gilpinia marshalli, G. Theo Zhang (1997), sâu róm thông Dendrolimus có 27 loài. Trong đó vùng mông cổ có loài D. Còn các loài khác phân bố ở vùng Đông Nam Á, Pakistan, Liên Xô (cũ), Nhật Bản và Triều Tiên.

Hầu hết các loài sâu róm thông có ở Trung Quốc. Trong đó, có 5 loài thường gây hại nguy hiểm và thường phát dịch là Sâu róm thông đuôi ngựa, sâu róm thông dầu, sâu róm thông đỏ, sâu róm thông Vân Nam và sâu róm thông kikucchi. Theo các nghiên cứu ở Trung Quốc, sâu róm 4 túm lông hại thông thuộc họ ngài độc (Lymantriidae), trong họ ngài độc có một số giống mà sâu non có đặc điểm có 4 túm lông dạng bàn chải trên lưng, đó là các giống Dasychira, Callitera, Orgyia và Pantana (Xiao, 1991). Tình hình nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái sâu hại thông Sâu róm thông (Dendrolimus punctatus Walker) phân bố tương đối rộng từ các tỉnh phía Nam Trung Quốc đến miền Trung nước ta, ngoài ra còn một số loài sâu róm thông thuộc giống Dendrolimus như các loài D.

spectabilis phân bố ở phía Bắc Trung Quốc và một số nước khác như Nga, Pháp,. (Billings, 1991 ; Zhang et al. 5 Từ những năm 1530, dịch Sâu róm thông được ghi nhận là đã xuất hiện ở Triết Giang, Trung Quốc và trận dịch kéo dài suốt trong 9 năm liền. Đến năm 1599, dịch Sâu róm thông tiếp tục xuất hiện và kéo dài tới 17 năm tại Giang Tô (Bassus, 1974; Chen, 1990).

Các nhà nghiên cứu cho thấy mỗi năm có khoảng 3 triệu ha rừng thông ở Trung Quốc bị sâu róm tấn công, thiệt hại ước tính mất đi sản lượng khoảng 5 triệu m3 gỗ. Gần đây nhất là vào năm 1988, chỉ tính riêng ở huyện Đức Khánh thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, diện tích rừng thông bị hại lên tới 40.000 ha, sản lượng nhựa giảm 6.510 tấn (Lu et al. Những nghiên cứu về Sâu róm thông được thực hiện chủ yếu là ở phía Đông Nam Trung Quốc, nơi thường xuyên xảy ra dịch và gây tổn thất nặng nề. Từ trước những năm 1970, rất nhiều công trình nghiên cứu về Sâu róm thông đã được công bố trên các tạp chí bao gồm các kết quả nghiên cứu về hình thái,đặc điểm sinh học và phương pháp dự tính sự báo, phòng trừ bằng biện pháp hóa học (Cai, 1995; Chen, 1990; Zhang et al., 2001; Zhang et al., 2003; Zhao et al, 1993; Zhu, 1986).

Ở Trung Quốc, Sâu róm thông có từ 1 đến 5 thế hệ trong năm phụ thuộc vào vĩ độ (Chen, 1990; Zhang et al., 2003), ở vị trí 30 vĩ độ Bắc có 2 - 3 thế hệ (He, 1995; Li et al. Trong khi đó ở Đài Loan mỗi năm loài này có 3 thế hệ (Ying, 1986). Theo nghiên cứu của Chen (1990), ở khu vực Trường Giang - Trung Quốc mỗi năm loài Sâu róm thông có 2 - 3 thế hệ, còn các khu vực khác như Quảng Đông và Quảng Tây thì có 3-4 thế hệ trong năm. Ở các khu vực này thì sâu thường qua đông khi còn ở giai đoạn sâu non, chúng có thể qua đông ở trên lá, trong vỏ cây hoặc dưới lớp lá rụng trên mặt đất quanh gốc cây.

Trong khi đó, ở những vùng có nhiệt độ cao hơn thì mỗi năm sâu có nhiều thế hệ hơn (Bassus, 1974; Lu et al. Ở vùng Hà Nam sâu non qua đông đến đầu tháng 5 mới vào nhộng, ở hai vùng Hồ Nam và 6 Quảng Đông, sâu non qua đông vào tháng 12. Nghiên cứu của Li (1999) cho thấy nếu tổng tích ôn một năm đạt khoảng 5.900oC thì mỗi năm có 2-3 thế hệ, nhưng nếu tổng tích ôn một năm lên tới 7.694 oC thì mỗi năm có 3-4 thế hệ. Kết quả nghiên cứu của Zhang et al (2003) đã chỉ ra ràng ở vùng Quảng Tây – Trung Quốc, sâu róm thông có 03 thế hệ trong năm, thời gian hoàn thành vòng đời là 72 – 84 ngày, cụ thể như sau: Thế hệ 1: Trừng (8 ngày); sâu non (54 ngày); nhộng (13 ngày); trưởng thành (7-8 ngày).

Thế hệ 2: Trứng (6 ngày); sâu non (46 ngày); nhộng (16 ngày); trưởng thành (7-8 ngày). Thế hệ 3: Trứng (6 ngày); sâu non (54 ngày); nhộng (17 ngày); trưởng thành (7-8 ngày). Thời gian phát triển các giai đoạn khác nhau của sâu và thời gian qua đông ở các vùng như Trường Giang và Hồ Nam dài hơn so với vùng Quảng Tây – Trung Quốc. Ở giai đoạn sâu non có sự thay đổi về kích thước, màu sắc, lượng thức ăn tiêu thụ và nơi qua đông phụ thuộc vào tuổi sâu.

Sâu non mới nở có tập tính ăn vỏ trứng, sống thành đàn, đến tuổi 2-3 mới phân tán tìm nguồn thức ăn. Sâu non tuổi 1-2 rất nhạy cảm với tác động từ bên ngoài, khi có độn mạnh hoặc gió thổi chúng thường buông tơ để phát tán rộng ra xung quanh. Sâu non tuổi 1-3 có tỷ lệ sống rất thấp, chỉ đạt 3-50% (Chen, 1990). Thời gian vũ hóa của sâu trưởng thành diễn ra trong khoảng thời gian từ 7-8 giờ tối, sau khi vũ hóa sâu trưởng thành cái tiết ra pheromon để hấp dẫn sâu trưởng thành đực và tiến hành giao phối ngay, thời gian để giao phối kéo dài tới 16 giờ sau khi vũ hóa.

Mỗi sâu trưởng thành chỉ giao phối 1 lần và thời gian giao phối phải đạt trên 7 giờ mới đảm bảo trứng được thụ tinh, nếu chỉ giao phối dưới 6 giờ thì trứng không thể nở (trứng chưa được thụ tinh) (Kong et al. Sau khi vũ hóa sâu trưởng thành không ăn bổ sung và có 7 thể sống đến 15 ngày. Sâu trưởng thành cái mỗi ngày đẻ trứng từ 1-3 lần vào khoảng thời gian từ 7-10 giờ tối. Số lượng trứng đẻ đạt 300-400 trứng/con.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đề Xuất Biện Pháp Phòng Trừ Sâu Hại Thông Nhựa Tại Nghệ An" cung cấp những giải pháp hiệu quả nhằm kiểm soát và phòng ngừa sâu hại đối với cây thông nhựa, một loại cây quan trọng trong phát triển kinh tế tại Nghệ An. Nội dung tài liệu không chỉ nêu rõ các phương pháp phòng trừ mà còn phân tích tác động của sâu hại đến năng suất và chất lượng cây trồng. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích giúp nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, bảo vệ môi trường và duy trì sự bền vững trong canh tác.

Để mở rộng kiến thức về các biện pháp phòng trừ sâu hại trong nông nghiệp, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ứng dụng chế phẩm sinh học trong phòng trừ bọ ánh kim hại hồi oides sp, nơi trình bày ứng dụng của chế phẩm sinh học trong việc kiểm soát sâu hại. Ngoài ra, tài liệu Điều tra diễn biến mật độ sâu tơ sâu khoang trên rau họ hoa thập tự và biện pháp phòng chống chúng vụ đông xuân 2008 2009 tại an dương hải phòng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các biện pháp phòng chống sâu hại trên rau màu. Cuối cùng, tài liệu Luận văn điều tra đánh giá thành phần và diễn biến mật độ của một số sâu hại chính và thiên địch trên mô hình canh tác lúa 3 giảm 3 tăng tại thành phố thái nguyên cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển của sâu hại trong canh tác lúa, từ đó giúp bạn có thêm thông tin để áp dụng vào thực tiễn.