Đặt vấn đề Theo Quyết định số 3322/QĐ-BNN-TCLN của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ngày 28/7/2014 về việc công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2013, tính đến ngày 31/12/2013 tổng diện tích rừng của cả nước là 13,954 triệu ha mới đạt độ che phủ 41% với tổng diện tích rừng trồng là 3.294ha (Bộ NN và PTNT, 2014); trong đó diện tích trồng các loại thông chiếm khoảng 400. Với đặc điểm sinh lý, sinh thái của cây thông, một loại cây chịu hạn có thể sống và phát triển trên những lập địa xấu, khô hạn. Do đó, trong chương trình trồng rừng 327 và chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng, thông được chọn là cây trồng chính quan trọng cần được ưu tiên phát triển. Trong ba loại thông đang được sử dụng để khai thác nhựa ở nước ta thì Thông nhựa là loài cây cho nhiều nhựa nhất (khoảng 5- 6kg/cây/năm).
Mặt khác, với phương thức khai thác bằng cách đẽo máng, chu kỳ khai thác nhựa của loài thông này có thể kéo dài 40-50 năm. Vì vậy, mục đích kinh doanh chính của các rừng trồng thông nhựa ở nước ta hiện nay chủ yếu là để khai thác nhựa. Thông là loài cây có giá trị kinh tế cao bao gồm một số loài thông chính như Thông mã vĩ, Thông nhựa, Thông ba lá. Ngoài các sản phẩm của thông như gỗ, nhựa, nguyên liệu giấy, cây thông còn được sử dụng trong việc phủ xanh đất trống đồi núi trọc, có khả năng phòng hộ chống xói mòn, tạo không khí trong lành và là loài cây có dáng đẹp được trồng rất nhiều ở các khu du lịch, nghỉ mát.
Chính vì vậy, diện tích rừng thông ngày càng được mở rộng và là một trong những cây trồng chính của ngành Lâm nghiệp. Tuy nhiên, việc gây trồng và phát triển cây thông cũng gặp nhiều trở ngại, trong đó trở ngại lớn nhất là vấn đề sâu bệnh hại, nguy cơ về sâu bệnh hại thông không chỉ xảy ra tại rừng trồng mà còn xuất hiện tại cả vườn ươm. 2 Riêng về sâu hại đã điều tra được 45 loài, trong đó gây hại nguy hiểm nhất là loài Sâu róm thông (Dendrolimus punctatus Walker), Sâu róm 4 túm lông (Dasychira axutha) với tỷ lệ bị hại ở các địa phương đều trên 50% (đặc biệt ở Nghệ An lên tới 73%) và mức độ bị hại đều ở mức tương đối nguy hiểm và nguy hiểm (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, 2013). Ban quản lý rừng phòng hộ Yên Thành quản lý với diện tích rừng và đất rừng là 6.050,0 ha trong đó rừng thông là 1.000,0 ha vừa trồng thuần loài vừa trồng hỗn giao giữa thông và keo tai tượng, keo lá tràm hoặc bạch đàn, rừng thông có độ tuổi không đồng đều, trong đó hơn 500 ha tuổi V – VII và 500 ha tuổi II – III.
Ngoài diện tích rừng Ban quản lý còn có hàng trăm ha rừng của các xã Đồng Thành, Bắc Thành, Xuân Thành, Lăng Thành, Mã Thành, Tân Thành… Nhìn chung chủ yếu là các loài thông nhựa sinh trưởng và phát triển tốt. Trong những năm qua Ban quản lý rừng phòng hộ Yên Thành và Hạt Kiểm Lâm Yên Thành đã và đang phải đối mặt với các loài sâu hại, đặc biệt sâu róm thông lan tràn trên diện rộng gây nên những thiệt hại đáng kể trong kinh doanh và quản lý rừng địa phương. Xuất phát từ thực tế trên và mong muốn đóng góp một chút công sức của bản thân để giải quyết được phần nào vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đề xuất biện pháp phòng trừ một số loài sâu hại thông nhựa tại ban Quản lý rừng phòng hộ Yên Thành, Nghệ An”. Ý nghĩa của đề tài Ý nghĩa khoa học Đề tài cung cấp thành phần các loài sâu hại thông nhựa, xác dịnh được các loài sâu gây hại chính.
Đồng thời cung cấp một số dẫn liệu khoa học về đặc điểm sinh học sinh thái của loài gây hại chính và tiến hành thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ đối tượng gây hại chính làm cơ sở khoa học quan 3 trọng cho việc quản lý các loài sâu hại chính trên cây thông nhựa tại Yên Thành, Nghệ An. Ý nghĩa thực tiễn Đề tài cung cấp danh lục các loài sâu hại thông nhựa, xác định được các loài sâu hại chính trên cây thông nhựa tại Nghệ An. Đồng thời cung cấp những dẫn liệu khoa học về đặc điểm sinh học sinh thái của loài sâu gây hại chính góp phần quan trọng vào việc phòng trừ hiệu quả loài sâu hại này trên rừng thông nhựa tại Yên Thành, Nghệ An để nâng cao năng suất và quản lý rừng trồng thông bền vững. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1.Tình hình nghiên cứu về thành phần sâu hại thông Theo kết quả nghiên cứu của Beaver và Laosumthorm (1974) ở vùng Bắc Thái Lan đã xác định được 3 giống ong ăn lá thông là loài Diprion, Neodiprion và Gilpinia; Năm loài chủ yếu được định danh là Diprion hutacharernae, Neodiprion biremis, Gilpinia marshalli, G. Theo Zhang (1997), sâu róm thông Dendrolimus có 27 loài. Trong đó vùng mông cổ có loài D. Còn các loài khác phân bố ở vùng Đông Nam Á, Pakistan, Liên Xô (cũ), Nhật Bản và Triều Tiên.
Hầu hết các loài sâu róm thông có ở Trung Quốc. Trong đó, có 5 loài thường gây hại nguy hiểm và thường phát dịch là Sâu róm thông đuôi ngựa, sâu róm thông dầu, sâu róm thông đỏ, sâu róm thông Vân Nam và sâu róm thông kikucchi. Theo các nghiên cứu ở Trung Quốc, sâu róm 4 túm lông hại thông thuộc họ ngài độc (Lymantriidae), trong họ ngài độc có một số giống mà sâu non có đặc điểm có 4 túm lông dạng bàn chải trên lưng, đó là các giống Dasychira, Callitera, Orgyia và Pantana (Xiao, 1991). Tình hình nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái sâu hại thông Sâu róm thông (Dendrolimus punctatus Walker) phân bố tương đối rộng từ các tỉnh phía Nam Trung Quốc đến miền Trung nước ta, ngoài ra còn một số loài sâu róm thông thuộc giống Dendrolimus như các loài D.
spectabilis phân bố ở phía Bắc Trung Quốc và một số nước khác như Nga, Pháp,. (Billings, 1991 ; Zhang et al. 5 Từ những năm 1530, dịch Sâu róm thông được ghi nhận là đã xuất hiện ở Triết Giang, Trung Quốc và trận dịch kéo dài suốt trong 9 năm liền. Đến năm 1599, dịch Sâu róm thông tiếp tục xuất hiện và kéo dài tới 17 năm tại Giang Tô (Bassus, 1974; Chen, 1990).
Các nhà nghiên cứu cho thấy mỗi năm có khoảng 3 triệu ha rừng thông ở Trung Quốc bị sâu róm tấn công, thiệt hại ước tính mất đi sản lượng khoảng 5 triệu m3 gỗ. Gần đây nhất là vào năm 1988, chỉ tính riêng ở huyện Đức Khánh thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, diện tích rừng thông bị hại lên tới 40.000 ha, sản lượng nhựa giảm 6.510 tấn (Lu et al. Những nghiên cứu về Sâu róm thông được thực hiện chủ yếu là ở phía Đông Nam Trung Quốc, nơi thường xuyên xảy ra dịch và gây tổn thất nặng nề. Từ trước những năm 1970, rất nhiều công trình nghiên cứu về Sâu róm thông đã được công bố trên các tạp chí bao gồm các kết quả nghiên cứu về hình thái,đặc điểm sinh học và phương pháp dự tính sự báo, phòng trừ bằng biện pháp hóa học (Cai, 1995; Chen, 1990; Zhang et al., 2001; Zhang et al., 2003; Zhao et al, 1993; Zhu, 1986).
Ở Trung Quốc, Sâu róm thông có từ 1 đến 5 thế hệ trong năm phụ thuộc vào vĩ độ (Chen, 1990; Zhang et al., 2003), ở vị trí 30 vĩ độ Bắc có 2 - 3 thế hệ (He, 1995; Li et al. Trong khi đó ở Đài Loan mỗi năm loài này có 3 thế hệ (Ying, 1986). Theo nghiên cứu của Chen (1990), ở khu vực Trường Giang - Trung Quốc mỗi năm loài Sâu róm thông có 2 - 3 thế hệ, còn các khu vực khác như Quảng Đông và Quảng Tây thì có 3-4 thế hệ trong năm. Ở các khu vực này thì sâu thường qua đông khi còn ở giai đoạn sâu non, chúng có thể qua đông ở trên lá, trong vỏ cây hoặc dưới lớp lá rụng trên mặt đất quanh gốc cây.
Trong khi đó, ở những vùng có nhiệt độ cao hơn thì mỗi năm sâu có nhiều thế hệ hơn (Bassus, 1974; Lu et al. Ở vùng Hà Nam sâu non qua đông đến đầu tháng 5 mới vào nhộng, ở hai vùng Hồ Nam và 6 Quảng Đông, sâu non qua đông vào tháng 12. Nghiên cứu của Li (1999) cho thấy nếu tổng tích ôn một năm đạt khoảng 5.900oC thì mỗi năm có 2-3 thế hệ, nhưng nếu tổng tích ôn một năm lên tới 7.694 oC thì mỗi năm có 3-4 thế hệ. Kết quả nghiên cứu của Zhang et al (2003) đã chỉ ra ràng ở vùng Quảng Tây – Trung Quốc, sâu róm thông có 03 thế hệ trong năm, thời gian hoàn thành vòng đời là 72 – 84 ngày, cụ thể như sau: Thế hệ 1: Trừng (8 ngày); sâu non (54 ngày); nhộng (13 ngày); trưởng thành (7-8 ngày).
Thế hệ 2: Trứng (6 ngày); sâu non (46 ngày); nhộng (16 ngày); trưởng thành (7-8 ngày). Thế hệ 3: Trứng (6 ngày); sâu non (54 ngày); nhộng (17 ngày); trưởng thành (7-8 ngày). Thời gian phát triển các giai đoạn khác nhau của sâu và thời gian qua đông ở các vùng như Trường Giang và Hồ Nam dài hơn so với vùng Quảng Tây – Trung Quốc. Ở giai đoạn sâu non có sự thay đổi về kích thước, màu sắc, lượng thức ăn tiêu thụ và nơi qua đông phụ thuộc vào tuổi sâu.
Sâu non mới nở có tập tính ăn vỏ trứng, sống thành đàn, đến tuổi 2-3 mới phân tán tìm nguồn thức ăn. Sâu non tuổi 1-2 rất nhạy cảm với tác động từ bên ngoài, khi có độn mạnh hoặc gió thổi chúng thường buông tơ để phát tán rộng ra xung quanh. Sâu non tuổi 1-3 có tỷ lệ sống rất thấp, chỉ đạt 3-50% (Chen, 1990). Thời gian vũ hóa của sâu trưởng thành diễn ra trong khoảng thời gian từ 7-8 giờ tối, sau khi vũ hóa sâu trưởng thành cái tiết ra pheromon để hấp dẫn sâu trưởng thành đực và tiến hành giao phối ngay, thời gian để giao phối kéo dài tới 16 giờ sau khi vũ hóa.
Mỗi sâu trưởng thành chỉ giao phối 1 lần và thời gian giao phối phải đạt trên 7 giờ mới đảm bảo trứng được thụ tinh, nếu chỉ giao phối dưới 6 giờ thì trứng không thể nở (trứng chưa được thụ tinh) (Kong et al. Sau khi vũ hóa sâu trưởng thành không ăn bổ sung và có 7 thể sống đến 15 ngày. Sâu trưởng thành cái mỗi ngày đẻ trứng từ 1-3 lần vào khoảng thời gian từ 7-10 giờ tối. Số lượng trứng đẻ đạt 300-400 trứng/con.