Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Chương 2: Pháp luật Việt Nam về điều kiện mang thai hộ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về mang thai hộ 8 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO 1. Những khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về mang thai hộ Mang thai đó là quá trình tạo nên mầm sống mới, đây là hiện tượng sinh lý bình thường diễn ra ở mỗi giống loài. Tiếng Latin về mang thai được viết là “Graviditas” hay còn có tên gọi khác là “thai nghén”, đây là từ chỉ việc người phụ nữ mang một hay nhiều con, được gọi là bào thai và phát triển bên trong tử cung của người phụ nữ [31].
Quá trình mang thai của con người có ý nghĩa nhằm duy trì nòi giống, gắn kết yêu thương, bởi con cái là động lực để cha mẹ sống tốt và có trách nhiệm, góp phần làm nâng cao chất lượng xã hội. Nhìn chung, mang thai được hiểu là quá trình người phụ nữ nuôi dưỡng bào thai trong cơ thể mình. Xét về mặt pháp lý tại Việt Nam đã có những quy định liên quan đến mang thai. Khái niệm về “thai” được quy định tại khoản 1 Điều 2 Thông tư số 12/2012/TT-BYT ban hành ngày 15 tháng 07 năm 2012 về quy trình kỹ thuật thụ tinh nhân tạo và thụ tinh ống nghiệm như sau:“Thai là sản phẩm của quá trình thụ tinh được tính bắt đầu từ tuần thứ 09 sau thụ tinh cho đến khi sinh hoặc khi sảy thai” [1].
Đồng thời, pháp luật cũng đưa ra định nghĩa về “phôi” như sau:“là quá trình kết hợp giữa noãn và tinh trùng” [2] quy định tại khoản 5 Điều 2 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ban hành ngày 28 tháng 01 năm 2015 quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Nhìn chung, khái niệm hoàn chỉnh về mang thai vẫn chưa được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật và chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này. Theo Từ điển Tiếng Việt, giải nghĩa cho từ “hộ” được hiểu là làm thay cho người khác, giúp người khác công việc không phải của mình [7]. Giải nghĩa từng từ như trên mang thai hộ được hiểu là việc mượn cơ thể của người phụ nữa khác với mục đích mang thai thay thế cho một người phụ nữ không thể tự mình 9 mang thai.
Thông tin từ Bệnh viện Hùng Vương cho biết “Mang thai hộ là khi người phụ nữ mang thai và sinh ra một em bé cho cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ khi họ mong muốn có con nhưng không thể mang thai được” [22]. Nhiều người vẫn còn gọi đây là hình thức “đẻ thuê” hoặc “đẻ mướn” có sự trao đổi giữa cả hai bên là người mẹ mang thai hộ và vợ chồng người nhờ mang thai hộ. Ý kiến khác đưa ra nhận định về việc mang thai hộ phải thông qua quá trình thực hiện thành công kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm. Theo Kirsty Horsey là Giáo sư Luật tại trường Kent Law “Surrogacy is the practice where one woman carries and gives birth to a baby that she intends to give to others – the intended parent – to raise, following a preconception agreement.
A surrogate pregnancy can be established using IVF or intrauterine insemination performed in a fertility clinic, using an embryo the intended parents have created using their gametes (with either a fresh or frozen embryo transfer), or one or both of the intended parents’s gametes may be substituted by a donor egg or spermatozoa where necessary. (MTH là việc một người phụ nữ mang thai và sinh con mà người mang thai dự định sẽ trao cho người khác, cha mẹ mà có dự định nuôi dưỡng, theo một thoả thuận hai bên. Mang thai hộ còn được thể hiện bằng cách sử dụng IVF hoặc thụ tinh trong tử cung được thực hiện trong phòng khám hỗ trợ sinh sản, sử dụng phôi mà người cha mẹ dự định đã tạo ra bằng cách sử dụng giao tử của hộ (bằng chuyển phôi tươi hoặc phôi đông lạnh) hoặc một hoặc cả hai giao tử của cha mẹ dự định có thể được thay thế bằng trứng hoặc tinh trùng của người hiến tặng khi cần thiết.) Thạc sĩ Nguyễn Thị Liệu đã nhận định về việc mang thai hộ là kỹ thuật dùng phương pháp lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm tạo ra phôi [13]. Đây là hình thức mang thai hộ sử dụng công nghệ khoa học được đánh giá cao trong nền y học.
Như vậy, từ các quan điểm nêu trên kết luận được rằng định nghĩa này có thể hiểu theo hai cách: Một là MTH được thực hiện theo khoa học công nghệ cao có sự hỗ trợ sinh sản IVF, điều này có nghĩa người thay thế hay gọi là người mang thai hộ sẽ không có quan hệ di truyền đối với đứa trẻ được sinh ra. Hai là, 10 người MTH sẽ được thuê để mang thai con với người chồng, phôi thai sẽ là sự kết hợp giữa tinh trùng và noãn cả hai bên. Trong trường hợp này, đứa trẻ sinh ra sẽ mang gen của người MTH hay còn gọi là có huyết thống với nhau. MTH diễn ra phổ biến và tiến bộ hơn trước và với những dẫn chứng trên cho thấy ngày nay đã có nhiều sự kết hợp của nhiều phương pháp khác nhau.
Cách định nghĩa về MTH cũng đang được hệ thống hoá hơn trong nhiều luật nhằm phát triển cho những người phụ nữ mang thai hộ. Tính hợp pháp của MTH cũng trên thế giới cũng khác nhau. Nhiều quốc gia không có quy định cụ thể về mang thai hộ. Pháp luật Việt Nam quy định mang thai hộ thông qua hai khái niệm là MTHVMĐNĐ và MTHVMĐTM tại Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014.
Pháp luật nước ta hiện nay cho phép thực hiện kỹ thuật mang thai hộ tuy nhiên chỉ được thực hiện với mục đích nhân đạo, đối với mục đích thương mại là hành vi nghiêm cấm. Mang thai hộ theo pháp luật Việt Nam được nhận định gồm có mục đích khi tham gia thực hiện đó là thương mại và nhân đạo. Cả hai mục đích mang thai nêu trên có điểm chung đều là mang thai cho người khác có can thiệt bởi kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Hai mục đích có sự khác biệt đó là đối với MTHVMĐTH các bên tham gia thực hiện đều có một đích vụ lợi cá nhân như tiền hay vật chất,…còn MTHVMĐNĐ các bên đều trên tinh thân giúp đỡ nhau có tính tự nguyện để cặp vợ chồng không thể có con được làm cha mẹ.
Có sự khác nhau bởi mục đích chính vì vậy pháp luật Việt Nam nghiêm cấm thực hiện hành vì mang thai hộ vì mục đích thương mại. Thực hiện MTHVMĐTM mang đến nhiều tiềm ẩn xấu đối với người phụ nữ thực hiện mang thai hộ và không đảm bảo được quyền lợi của đứa trẻ được sinh ra. Từ nhiều khái niệm khác nhau, tác giả đưa ra khái niệm về MTH là quá trình thực hiện pháp luật về quan hệ giữa người phụ nữ mang thai và sinh ra một em bé cho cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ với mong muốn có con nhưng không thể mang thai được, được thực hiện giữa các bên với cơ sở y tế có chuyên môn thực hiện kỹ thuật MTH. Người con của vợ chồng áp dụng phương pháp này sẽ 11 có gen di truyền, nhóm máu của cặp vợ chồng và không có huyết thống với người mang thai hộ.
Khái niệm về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo MTHVMĐ là phương pháp sử dụng công nghệ y khoa hiện đại sử dụng kỹ thuật TTTON hoặc IVF để cấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để tạo phôi và phôi được chuyển vào cơ thể của một người phụ nữ khác để mang thai và sinh con cho bên nhờ MTH. Người phụ nữ MTH phải đồng ý giúp đỡ dựa trên tinh thần tự nguyện không vì lợi ích nào khác. Xét về phương diện xã hội, MTHVMĐNĐ là phương pháp mang tính nhân văn phù hợp nhất đối với những trường hợp không may không thể tự mình mang thai và sinh con một cách tự nhiên. Như vậy, việc MTHVMĐNĐ đã tạo ra hy vọng cuối cùng cho những cặp đôi vô sinh muốn có con chung khi cả hai đã áp dụng nhiều kỹ thuật hỗ trợ sinh sản khác mà không thành công.
Đây là nguyện vọng chính đáng của người làm cha, làm mẹ và là quyền con người hoàn toàn tự nhiên xuất phát từ mong muốn được có cơ hội làm cha, làm mẹ. Bên cạnh đó, trong bối cảnh xã hội hiện đại, MTHVMĐNĐ đã tạo ra những thay đổi về quan niệm xưa khi xác định người mẹ giờ đây không chỉ là người sinh ra đứa trẻ và sẽ không còn tuân theo lẽ tự nhiên và quy luật thông thường. Việc này đã mở rộng quan niệm về người mẹ trong xã hôi hiện đại. MTHVMĐNĐ được hiểu với góc độ xã hội là việc những người phụ nữ giúp đỡ nhau thực hiện việc mang thai và sinh con nếu gặp phải khó khăn không thể trực tiếp thực hiện.
Ở góc độ pháp lý, tại Việt Nam điều chỉnh và xây dựng cơ chế thực hiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là một vấn đề hoàn toàn mới. Những văn bản quy phạm pháp luật trước đây như Luật HN&GĐ năm 2000 mang thai hộ chưa được nhắc đến. Đến năm 2003 pháp luật mới có quy định về mang thai hộ, tình hình đất nước cùng với xã hội thời đó nước ta đưa ra quy định “nghiêm cấm các hành vi mang thai hộ” tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ban hành ngày 12 tháng 02 năm 2003 về việc sinh con theo phương pháp khoa học. Tuy nhiên nhu cầu mang thai hộ ở nước ta lại ngày càng phổ biến.
Các dịch vụ mang thai hộ đều được tìm thấy nhanh chóng thông qua Internet, bài báo đưa tin 12 thực hiện dịch vụ mang thai hộ có giá 50 triệu đồng đối với một ca vào năm 2007 [23]. Các bác sĩ Việt Nam sẽ không thực hiện việc mang thai hộ vì vi phạm pháp luật, vậy nên nhiều người đã chuyển hướng đi sang nước ngoài thực hiện mục đích. Chẳng hạn như vụ án về việc 14 cô gái Việt Nam tham gia đường dây đẻ thuê tại Thái Lan [23]. Những vụ việc trên đã dẫn đến tình trạng cơ quan nhà nước không thể kiểm soát kịp thời và bảo vệ lại quyền và lợi ích của công dân hoặc đảm bảo an toàn cho đứa trẻ sinh ra.