Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sự gia tăng tỷ lệ vô sinh và hiếm muộn trên toàn cầu là bối cảnh thực tiễn trực tiếp thúc đẩy tác giả chọn đề tài. Theo số liệu được tác giả dẫn từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), cứ 6 người trưởng thành thì có 1 người bị vô sinh. Tại Việt Nam, khoảng 7,7% cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ mắc các bệnh vô sinh hoặc hiếm muộn; tỷ lệ vô sinh thứ phát sau một lần có thai tăng từ 15–20% mỗi năm. Nam và nữ mắc vô sinh với tỷ lệ ngang nhau là 40%; các trường hợp cả hai vợ chồng cùng mắc chiếm 10%, và 10% còn lại không rõ nguyên nhân.

Trước khi Luật Hôn nhân và Gia đình (Luật HN&GĐ) năm 2014 được ban hành, pháp luật Việt Nam cấm hoàn toàn mang thai hộ (MTH) theo Nghị định 12/2003/NĐ-CP. Sự thiếu khung pháp lý khả thi đã dẫn đến các dịch vụ MTH chui, bao gồm vụ 14 cô gái Việt Nam tham gia đường dây đẻ thuê tại Thái Lan và dịch vụ MTH được rao bán với giá 50 triệu đồng một ca vào năm 2007. Từ năm 2014, Luật HN&GĐ chính thức cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (MTHVMĐNĐ) và nghiêm cấm mang thai hộ vì mục đích thương mại (MTHVMĐTM). Tuy nhiên, chế định này còn mới, nhiều quy định về điều kiện MTH còn chưa rõ ràng hoặc có mâu thuẫn nội tại.

Mục tiêu nghiên cứu: Dựa trên hệ thống quy định pháp luật hiện hành về MTHVMĐNĐ, đánh giá và chỉ ra các bất cập của pháp luật về điều kiện MTH; từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận, làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của MTHVMĐNĐ dưới góc độ đảm bảo quyền con người.
  2. Phân tích các quy định pháp luật về điều kiện MTHVMĐNĐ được ban hành tại Việt Nam.
  3. Trình bày và so sánh quy định một số quốc gia trên thế giới với pháp luật Việt Nam.
  4. Nhận xét những điểm tích cực và bất cập khi áp dụng pháp luật trong thực tiễn.
  5. Đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện pháp luật về điều kiện MTHVMĐNĐ.

Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật Việt Nam về điều kiện MTHVMĐNĐ, cụ thể là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan.

Phạm vi nghiên cứu: Về nội dung, tập trung vào điều kiện thực hiện MTHVMĐNĐ theo Luật HN&GĐ năm 2014, Bộ Luật Dân sự 2015, Nghị định 10/2015/NĐ-CP và Nghị định 98/2016/NĐ-CP. Về không gian và thời gian, nghiên cứu giới hạn trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam kể từ khi pháp luật cho phép thực hiện MTHVMĐNĐ.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung pháp lý và khái niệm nền tảng:

Khóa luận xây dựng cơ sở lý luận dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

Văn bản Nội dung liên quan
Luật HN&GĐ năm 2014 (Điều 93–100, Điều 95) Điều kiện MTHVMĐNĐ; quyền, nghĩa vụ các bên
Nghị định 10/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết điều kiện MTH, hồ sơ, tư vấn (Điều 13–19)
Nghị định 98/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung điều kiện MTHVMĐNĐ
Bộ Luật Dân sự 2015 Quy định liên quan về nhân thân, huyết thống
Hiến pháp 2013 (khoản 1 Điều 20) Quyền bất khả xâm phạm về thân thể
Thông tư 12/2012/TT-BYT Định nghĩa "thai", quy trình kỹ thuật thụ tinh
Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP Hướng dẫn thi hành Luật HN&GĐ năm 2014

Khái niệm cốt lõi về "điều kiện mang thai hộ" được tác giả tiếp nhận từ luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Duyên: "Điều kiện mang thai hộ là một hoặc tổng hợp các yêu cầu mang tính chất bắt buộc mà các chủ thể tham gia vào quá trình mang thai hộ phải đáp ứng, nhằm kiểm soát việc mang thai hộ được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật và là cơ sở pháp lý để việc mang thai hộ có hiệu lực pháp luật."

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, phân tích thông tin từ sách chuyên khảo, giáo trình, tạp chí khoa học, công trình nghiên cứu liên quan để xây dựng cơ sở lý luận.
  • Phương pháp so sánh luật: So sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật các quốc gia (Anh, Úc, Đan Mạch, Ấn Độ, Thái Lan, Nga, Ukraina, Pháp, Đức) về điều kiện MTH để rút ra nhận định về ưu điểm và hạn chế của quy định Việt Nam.

Nguồn dữ liệu: Văn bản quy phạm pháp luật; giáo trình của Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2016) và Đại học Luật Hà Nội (2021); luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, bài tạp chí chuyên ngành; tài liệu hội thảo khoa học; thông tin từ cơ sở y tế (Bệnh viện Hùng Vương); báo cáo của Cơ quan Thụ tinh Nhân tạo và Quản lý Phôi Vương quốc Anh (HFEA).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Chương một xây dựng hệ thống khái niệm nền tảng. Tác giả phân biệt ba khái niệm then chốt: mang thai hộ (quá trình người phụ nữ nuôi dưỡng bào thai trong cơ thể mình cho cặp vợ chồng khác thông qua kỹ thuật hỗ trợ sinh sản); MTHVMĐNĐ (người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại, sử dụng noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng thụ tinh trong ống nghiệm rồi cấy phôi vào tử cung của mình); và điều kiện mang thai hộ (tổng hợp các yêu cầu bắt buộc mà các chủ thể phải đáp ứng để quan hệ MTH có hiệu lực pháp luật).

Tác giả xác định ba đặc điểm của điều kiện MTHVMĐNĐ: (i) tạo cơ sở pháp lý xác định quyền và nghĩa vụ các bên căn cứ Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2014; (ii) hướng tới đảm bảo quyền lợi cho tất cả các bên, đặc biệt thể hiện qua yêu cầu tự nguyện được lập thành văn bản theo Nghị định 10/2015/NĐ-CP; (iii) mang tính bắt buộc thực hiện đối với mọi chủ thể tham gia nhằm ngăn chặn MTHVMĐTM.

Ba yếu tố tác động đến điều kiện MTHVMĐNĐ được xác định là: văn hóa phong tục tập quán (ảnh hưởng Nho giáo, quan niệm dòng tộc huyết thống, tư tưởng trọng nam); yếu tố tâm lý và đạo đức (áp lực dư luận với người MTH bị gọi là "đẻ thuê", "đẻ mướn"); và yếu tố kinh tế–xã hội (tỷ lệ vô sinh tăng kéo theo nhu cầu MTH ngày càng lớn).

Phần khảo sát luật so sánh phân loại các quốc gia thành ba nhóm và phân tích chi tiết từng đại diện:

Nhóm quốc gia Đại diện tiêu biểu
Chỉ cho phép MTHVMĐNĐ Anh, Úc, Đan Mạch, Ấn Độ (từ 2019), Thái Lan (từ 2015), Việt Nam
Cho phép mọi hình thức MTH Nga, Ukraina, Hy Lạp, Iran
Tuyệt đối cấm MTH Pháp, Đức, Áo, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Đài Loan

Một số dữ liệu so sánh đáng chú ý: tại Vương quốc Anh, tính đến tháng 02/2022, có 108 người MTH được quản lý bởi HFEA, với 71 em bé được sinh ra bởi 61 người MTH trong giai đoạn 2014 đến tháng 9/2021. Tại Ukraina, có ít nhất 1.000 trẻ em được sinh ra bằng phương pháp MTH với nhu cầu từ 15 quốc gia; chi phí MTH tại Ukraina khoảng 40.000 Euro, thấp hơn nhiều so với Mỹ hoặc Hà Lan (100.000 Euro) và Canada (60.000 Euro).

Chương 2: Pháp luật Việt Nam về điều kiện mang thai hộ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về MTH

Chương hai trình bày quá trình phát triển lập pháp và phân tích chi tiết các điều kiện hiện hành theo hai cấp độ.

Điều kiện chung: Cả hai bên phải thực hiện trên cơ sở tự nguyện và được lập thành văn bản, căn cứ khoản 1 Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2014 và Hiến pháp 2013. Văn bản thỏa thuận phải bao gồm bốn nhóm nội dung: thông tin các bên; cam kết về quyền và nghĩa vụ theo Điều 97 và 98; cách giải quyết tai biến sản khoa và hậu quả phát sinh; và trách nhiệm dân sự khi vi phạm. Văn bản phải được công chứng; thoả thuận ba bên (bao gồm cơ sở y tế) phải có xác nhận của người có thẩm quyền của cơ sở y tế đó.

Điều kiện cụ thể đối với bên nhờ MTH (khoản 2 Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2014):

  • Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
  • Vợ chồng đang không có con chung.
  • Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý theo Nghị định 10/2015/NĐ-CP (Điều 15–18).

Tác giả chỉ ra mâu thuẫn giữa Luật HN&GĐ năm 2014 và Nghị định 10/2015/NĐ-CP tại điểm d Điều 14: Luật dùng từ "không có con chung" (bao gồm cả trường hợp từng có con nhưng đã mất), trong khi Nghị định quy định "chưa có con chung" (chưa từng có), làm thu hẹp đối tượng được nhờ MTH so với tinh thần của Luật. Chi phí thụ tinh trong ống nghiệm tại Bệnh viện Hùng Vương được dẫn cụ thể: phí cố định 20 triệu đồng, tiền thuốc từ 34 đến 45 triệu đồng, chưa kể các chi phí đông phôi, lưu trữ phôi, chu kỳ chuyển phôi.

Điều kiện cụ thể đối với người MTH (khoản 3 Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2014):

  • Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ MTH (được định nghĩa chi tiết tại khoản 7 Điều 2 Nghị định 10/2015/NĐ-CP).
  • Đã từng sinh con và chỉ được MTH một lần.
  • Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế về khả năng MTH.
  • Nếu có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng.
  • Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

Tác giả lưu ý chưa có hướng dẫn cụ thể về "MTH một lần": liệu đó là lần sinh con thành công hay bao gồm cả trường hợp thai không thể sống.


Kết quả và đóng góp

Những bất cập được xác định:

  • Điều kiện xác nhận y tế về tình trạng vô sinh của người vợ dẫn đến hai cách hiểu mâu thuẫn: hoặc người vợ phải trải qua toàn bộ các biện pháp hỗ trợ sinh sản trước (chi phí rất cao, không phù hợp cho nhiều gia đình), hoặc chỉ cần xác nhận qua kiểm tra y tế (tiềm ẩn nguy cơ cấp giấy xác nhận giả).
  • Mâu thuẫn giữa Luật HN&GĐ 2014 và Nghị định 10/2015/NĐ-CP về điều kiện "không có con chung" so với "chưa có con chung".
  • Pháp luật Việt Nam chưa quy định cụ thể độ tuổi của các bên chủ thể tham gia (khác với Ấn Độ quy định người MTH từ 25–35 tuổi, hoặc Úc nơi các bang quy định chi tiết từ 18–25 tuổi tùy khu vực).
  • Chưa có quy định về bảo hiểm trong quá trình thực hiện dịch vụ y tế khi MTH (khác với Ấn Độ, nơi quy định bảo hiểm 16 tháng cho các biến chứng sau sinh).
  • Điều kiện người MTH phải là người thân thích làm hẹp đáng kể phạm vi tìm người MTH, trong khi Anh không yêu cầu họ hàng và Thái Lan mở rộng thêm đối tượng không cùng huyết thống nếu đáp ứng thủ tục bổ sung.

Kiến nghị hoàn thiện pháp luật:

Tác giả đề xuất kiến nghị theo hai nhóm:

  • Pháp luật dân sự: Cần thống nhất nội dung giữa Luật HN&GĐ và các nghị định hướng dẫn, đặc biệt về điều kiện "không có con chung" và quy định cụ thể về thế nào là "MTH một lần".
  • Pháp luật chuyên ngành: Bổ sung quy định về độ tuổi cụ thể của các bên chủ thể, quy định về chế độ bảo hiểm y tế khi thực hiện MTH, và cân nhắc nới rộng điều kiện về mối quan hệ thân thích để tăng tính khả thi trên thực tế.

Đóng góp học thuật: Khóa luận đóng góp vào việc hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về điều kiện MTHVMĐNĐ theo pháp luật Việt Nam; chỉ ra cụ thể các mâu thuẫn nội tại giữa Luật HN&GĐ 2014 và Nghị định 10/2015/NĐ-CP; và đặt các quy định của Việt Nam trong bức tranh so sánh với nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, từ đó đề xuất kiến nghị có cơ sở thực tiễn.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Tác giả thừa nhận khóa luận chủ yếu tiếp cận từ góc độ phân tích văn bản pháp luật (lý luận–pháp lý) mà chưa đánh giá thực tiễn áp dụng qua dữ liệu định lượng hoặc khảo sát thực địa — khác với một số công trình tham chiếu đã có phần thực tiễn áp dụng (như luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Lê Huyền). Do phạm vi nghiên cứu giới hạn ở điều kiện MTH, các vấn đề liên quan như quyền và nghĩa vụ của các bên sau khi MTH, xác định nhân thân của đứa trẻ, hoặc trách nhiệm hình sự khi vi phạm không được phân tích chuyên sâu. Các hướng mở tiếp theo có thể bao gồm: nghiên cứu thực tiễn xét xử tranh chấp MTH; phân tích chính sách bảo hiểm y tế cho người MTH; và đánh giá tác động của Nghị định 98/2016/NĐ-CP sau khi áp dụng.


Giá trị tham khảo

Khóa luận phù hợp với các nhóm người đọc sau:

  • Sinh viên và học viên ngành Luật, đặc biệt chuyên ngành Luật Dân sự và Luật Hôn nhân–Gia đình, cần tài liệu tổng hợp quy định pháp lý về MTHVMĐNĐ để so sánh, đối chiếu.
  • Người làm đề tài tương tự quan tâm đến nội dung so sánh luật pháp các quốc gia (Anh, Úc, Ấn Độ, Thái Lan, Nga, Pháp, Đức) với Việt Nam — phần này được trình bày có hệ thống và đủ chi tiết để sử dụng làm nền tảng cho nghiên cứu sâu hơn.
  • Người nghiên cứu về quyền con người và y tế–pháp lý, đặc biệt quan tâm đến quyền được làm cha mẹ và giới hạn can thiệp pháp lý vào các quyết định sinh sản.
  • Cán bộ tư vấn pháp lý và y tế làm việc trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản có thể tham khảo phần phân tích điều kiện tư vấn y tế, pháp lý, tâm lý quy định tại Nghị định 10/2015/NĐ-CP.

Phần đáng tham khảo nhất là Chương 2, mục phân tích các bất cập của điều kiện hiện hành và mục so sánh điều kiện MTHVMĐNĐ giữa Việt Nam và Ấn Độ, Thái Lan.


Câu hỏi thường gặp

1. Pháp luật Việt Nam quy định điều kiện đối với người mang thai hộ cụ thể như thế nào về mối quan hệ với bên nhờ MTH?

Theo khoản 3 Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2014 và khoản 7 Điều 2 Nghị định 10/2015/NĐ-CP, người MTH phải là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ MTH, bao gồm: anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha; con của những người có vai vế chú, bác, cô, cậu, dì; anh chị em rể có cùng cha mẹ. Những người không có quan hệ thân thích theo quy định này đều không được phép tham gia với tư cách người MTH.

2. Tại sao có sự mâu thuẫn giữa Luật HN&GĐ 2014 và Nghị định 10/2015/NĐ-CP về điều kiện "con chung" và hậu quả pháp lý của mâu thuẫn này là gì?

Luật HN&GĐ năm 2014 dùng cụm từ "vợ chồng đang không có con chung", bao gồm cả trường hợp từng có con chung nhưng con đã mất. Trong khi đó, điểm d Điều 14 Nghị định 10/2015/NĐ-CP quy định về "tình trạng chưa có con chung của vợ chồng" — hàm ý chưa từng có con chung. Sự mâu thuẫn này dẫn đến việc các cặp vợ chồng từng có con chung nhưng con bị mất không thể nhờ MTH theo hướng dẫn của Nghị định, mặc dù Luật không loại trừ họ.

3. Pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về "chỉ được mang thai hộ một lần" và điều này được hiểu theo những cách nào?

Khoản 3 Điều 95 Luật HN&GĐ 2014 quy định người MTH "chỉ được mang thai hộ một lần" nhưng chưa có văn bản hướng dẫn chi tiết. Tác giả xác định hai cách hiểu: cách hiểu thứ nhất là MTH phải dẫn đến việc đứa trẻ được sinh ra và còn sống; cách hiểu thứ hai là người phụ nữ đã trải qua quá trình mang thai hộ dù đứa trẻ không sống sau khi sinh. Sự thiếu rõ ràng này tạo ra khoảng trống pháp lý trong áp dụng thực tế.

4. Điều kiện MTHVMĐNĐ của Việt Nam khác biệt như thế nào so với Ấn Độ và Thái Lan?

Cả ba nước đều yêu cầu bên nhờ MTH là vợ chồng hợp pháp và người MTH phải đã từng sinh con. Tuy nhiên, Ấn Độ quy định cụ thể độ tuổi người MTH từ 25–35 tuổi và bắt buộc bảo hiểm 16 tháng cho biến chứng sau sinh, trong khi Việt Nam chưa có hai quy định này. Thái Lan mở rộng hơn khi cho phép người không cùng huyết thống vẫn được MTH nếu tuân thủ thủ tục bổ sung của Bộ Y tế, còn Việt Nam bắt buộc người MTH phải là người thân thích cùng hàng. Thái Lan còn quy định cụ thể trường hợp vợ hoặc chồng là người nước ngoài phải có đăng ký kết hôn không dưới 3 năm — một điều khoản Việt Nam chưa đề cập.

5. Tại sao các quốc gia như Ấn Độ và Thái Lan từng cho phép MTHVMĐTM lại phải thay đổi pháp luật để chỉ cho phép MTHVMĐNĐ?

Tại Ấn Độ, sau khi cho phép MTHVMĐTM với quy định lỏng lẻo, nhiều phụ nữ nghèo đã coi MTH là "nghề" và thực hiện nhiều lần, gây nguy hại sức khỏe. Tại Thái Lan, hai vụ bê bối lớn đã thúc đẩy thay đổi luật: vụ bé Gammy mắc hội chứng Down bị cặp vợ chồng Úc bỏ lại (người MTH theo đạo Phật từ chối phá thai theo yêu cầu), và vụ doanh nhân Nhật Bản Mitsutoki Shigeta thuê nhiều phụ nữ Thái Lan sinh tổng cộng 16 người con. Hai vụ việc này dẫn đến Đạo Luật Bảo vệ đứa trẻ được sinh ra bởi công nghệ hỗ trợ sinh sản năm 2015 tại Thái Lan, cấm MTHVMĐTM.


Kết luận

Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý luận về điều kiện MTHVMĐNĐ theo pháp luật Việt Nam, từ các khái niệm nền tảng, đặc điểm và ý nghĩa pháp lý, đến bức tranh so sánh với nhiều quốc gia. Phân tích pháp lý chỉ ra rằng dù Luật HN&GĐ năm 2014 đánh dấu bước tiến nhân văn quan trọng khi chính thức thừa nhận MTHVMĐNĐ, hệ thống điều kiện hiện hành vẫn còn các mâu thuẫn nội tại giữa luật và nghị định, thiếu quy định về độ tuổi cụ thể và chế độ bảo hiểm, cũng như hạn chế đối tượng người MTH so với xu hướng của các nước có văn hóa tương đồng. Khóa luận kết thúc bằng các kiến nghị hoàn thiện thuộc cả lĩnh vực pháp luật dân sự lẫn pháp luật chuyên ngành, hướng đến việc cân bằng giữa tính nhân văn, quyền con người và tính khả thi trong thực tiễn áp dụng.