Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài. Chương 2: Các biện pháp tổ chức dạy học nội dung hình học 6 thông qua học tập trải nghiệm. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. Phần kết luận và kiến nghị: Trình bày những kết luận rút ra trong quá trình nghiên cứu cũng như thực nghiệm và nêu một số ý kiến đề xuất.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TỔ CHỨC DẠY HỌC NỘI DUNG HÌNH HỌC 6 THÔNG QUA HỌC TẬP TRẢI NGHIỆM 1.1 Học tập trải nghiệm 1.1 Bản chất của học tập trải nghiệm * Trải nghiệm Theo nghĩa tiếng việt, trải nghiệm nghĩa là sự chiêm nghiệm qua. Từ điển tiếng Việt, trải nghiệm là trải qua, kinh qua thực tế. Trải nghiệm là hành động và kết quả của hành động là người tham gia có được “kinh nghiệm” [19]. Trong “Lý thuyết học tập trải nghiệm”, David Kolb nhấn mạnh: “Trải nghiệm là cơ sở của việc học và phát triển” [28].
Nhà tâm lý học L.X Vygotsky và nhà giáo dục học John Dewey có quan điểm tương đồng về trải nghiệm: trải nghiệm và sống là hai khía cạnh luôn song hành cùng nhau, hoàn thiện và bổ sung cho nhau. Quá trình trải nghiệm, dù kinh nghiệm thu được là tốt hay xấu, thì vẫn là quá trình tích lũy kinh nghiệm, vun đắp vốn sống, vốn kinh nghiệm của con người, giúp con người hình thành năng lực và phẩm chất theo [21], [22], [29]. Khi đó, trải nghiệm đáp ứng hai nhu cầu của con người: Đầu tiên, con người sống trong thực tại, tương tác với thực tại với mong muốn tiếp thu và làm đa dạng những kinh nghiệm sống, kiến thức cho riêng bản thân để tự hoàn thiện mình, sống tốt hơn. Sau đó, con người hồi đáp lại môi trường, xã hội – Trải nghiệm để phục vụ lại cuộc sống.
Trong luận văn này, chúng tôi cho rằng: Trải nghiệm (Experience) là những gì con người đã từng làm để thu lại “kinh nghiệm” từ cuộc sống và từng phản hồi lại vào cuộc sống để hình thành năng lực và phẩm chất. * Học tập trải nghiệm Theo từ điển tiếng Việt, “học tập” là sự tiếp thu hiểu biết, kiến thức, hành vi, thái độ và giá trị mới, diễn ra từ lúc con người lúc sinh cho đến khi già đi, được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau [19]. Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, các hình thức học tập ngày càng được cải tiến, tiến bộ hơn, trong đó có học tập trải nghiệm (Experiential Learning): “HTTN là một kỹ thuật giáo dục hoặc một loại hình thức học tập” – David Kolb [28]. Nhiều 12 nhà tâm lí, giáo dục học trên thế giới hay trong nước đã nghiên cứu và có sự nhất quán về tầm quan trọng của trải nghiệm trong học tập, nhưng theo một số quan điểm khác biệt.
Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, “học đi đôi với hành” phản ánh quan điểm học qua thực hành (learning by practice) [14]. Thực hành là việc người học vận dụng những lí luận, lí thuyết được học vào một ngữ cảnh khác, hay thực hiện những nhiệm vụ nào đó của thực tiễn. Thông qua việc thực hành, người học chính xác hoá và củng cố kiến thức thu được, hiểu được lí luận sâu sắc hơn và chiếm lĩnh được một số kĩ năng thực hiện. Trong hai cuốn “Kinh nghiệm và giáo dục” và “John Dewey về giáo dục” theo [21] và [22], John Dewey cho rằng: “giáo dục không phải là sự chuẩn bị cho cuộc sống, giáo dục là bản thân cuộc sống”, “hãy để các em học sinh làm một cái gì đó, chứ không phải học một cái gì đó và làm với tính chất như vậy là để yêu cầu suy nghĩ học hỏi kết quả một cách tự nhiên”.
Hay học tập là quá trình tích luỹ và tái cấu trúc lại kinh nghiệm hay trải nghiệm của người học nhằm làm sâu sắc nội dung có tính xã hội của nó. Theo đó, John Dewey khởi xướng quan điểm “học qua làm” (learning by doing). Học qua làm hiểu là việc chiếm lĩnh tri thức hay hình thành kĩ năng chủ yếu thông qua các thao tác hành vi, hành động trực tiếp của người học với đối tượng, từ đó người học tự rút ra kinh nghiệm, dần dần hình thành hiểu biết mới và một vài kĩ năng nào đó. Ví dụ như trẻ học đi, học bơi,… qua thao tác và hành vi trực tiếp với đối tượng, làm đi làm lại nhiều lần trẻ sẽ đi vững, bơi giỏi.
Học qua làm thường được vận dụng với một số nội dung học tập có tính kĩ thuật, chính vì vậy đầu ra của học qua làm có thể xác định khá rõ ràng. Tổ chức Giáo dục Trải nghiệm Quốc gia Mỹ (NSEE) định nghĩa HTTN là “một sự khởi đầu mang tính qui nạp với những trải nghiệm non nớt được xử lý thông qua một định dạng học tập có chủ ý và được chuyển hoá thành những kiến thức ứng dụng hiệu quả” (www. Hiệp hội về Thực nghiệm học Mỹ (AEE) cũng đưa ra việc học thông qua trải nghiệm là “một quá trình mà qua đó, người học thu lượm được kiến thức, kĩ năng và giá trị từ những trải nghiệm trực tiếp” (www.org/ndef/html). Theo David Kolb, “học tập trải nghiệm là một quá trình, trong đó kiến thức, năng lực được tạo ra thông qua việc chuyển đổi kinh nghiệm” [28].
Trong cả 3 quan điểm trên, ta cần lưu ý đến hai từ khoá quan trọng là “quá trình” và “chuyển hoá”. Theo từ điển tiếng Việt, “quá trình” là trình tự phát triển, diễn biến 13 của một sự việc, hiện tượng nào đó; và “chuyển hoá” là biến đổi sang hình thức hay trạng thái khác [19]. Vì thế, chúng tôi cho rằng chuyển hoá kinh nghiệm là sự biến đổi từ kinh nghiệm xã hội sang kinh nghiệm cá nhân (người học khi tương tác trực tiếp với người khác, với môi trường xã hội, tiếp nhận các kinh nghiệm xã hội thành của mình) và ngược lại (người học sử dụng kinh nghiệm của mình để giải quyết các vấn đề thực tế của môi trường xã hội). Kinh nghiệm có thể truyền từ người này sang người kia, con người cũng có thể tự tạo ra kinh nghiệm khi tương tác với xã hội và kinh nghiệm cũng có thể tự mất đi khi không còn phù hợp với xã hội để thay bằng kinh nghiệm khác.
Sự chuyển hoá lặp đi lặp lại, thay đổi liên tục như vậy chính là diễn biến của sự phát triển năng lực và phẩm chất của con người – quá trình phát triển của con người. Bên cạnh đó, David Kolb còn phản ánh HTTN luôn gắn kinh nghiệm chặt chẽ với cảm xúc [28]. Ví dụ như, khi học về các loài hoa, thay vì chỉ học qua sách vở, nếu trẻ được trải nghiệm đến công viên, vườn hoa quan sát thì không chỉ nhận biết được hình dạng, màu sắc mà còn yêu thích hoa, biết rằng không ngắt hoa trên cành. Thậm chí, trẻ sẽ cảm nhận được mùi hương hoa, phân biệt được các loại hoa qua thính giác, đó là điều không thể học qua mô tả hay chỉ thao tác hành động được.
Từ đó, có thể nói học qua thực hành và học qua làm là các trường hợp riêng của học tập trải nghiệm. Như vậy, trong luận văn này, chúng tôi cho rằng HTTN là một quá trình mà người học được làm việc trực tiếp trên đối tượng học tập; huy động được những kinh nghiệm cá nhân khi tương tác với người khác và môi trường để thu được kinh nghiệm mới nhờ quá trình chuyển hoá kinh nghiệm nhằm nâng cao nhận thức, giá trị sống của bản thân với thế giới thực tiễn. Hiểu như vậy để thấy rằng, trong học tập, HS không những được trực tiếp tham gia vào các hoạt động học tập để thực hành, luyện tập những kiến thức đã có, được thao tác trực tiếp với đối tượng học tập mà còn được sử dụng những kinh nghiệm của mình để “mò mẫm”, suy ngẫm, cảm nhận đối tượng học tập khi tương tác với môi trường xã hội, với người khác. Kết quả là tri thức mới được HS tiếp thu và HS cũng tăng hứng thú với các sự vật xung quanh trong môi trường xã hội, quan tâm hơn đến việc vận dụng tri thức vào thực tiễn.2 Một số mô hình về học tập trải nghiệm Năm 1971, lý thuyết Học tập trải nghiệm (HTTN – Experiential learning) của D.
David Kolb chính thức được công bố lần đầu tiên với tư cách là lý thuyết tương đối toàn diện về một phương thức học tập tích lũy, chuyển tiếp hóa kinh nghiệm. Lí thuyết này được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học của một số lý thuyết học tập có liên quan đến kinh nghiệm của các nhà tâm lý học, giáo dục học như: John Dewey (1859-1952); Kurt Lewin (1890-1947); Jean Piaget (1896-1980); Lev Vygotsky (1896-1934); Carl Jung (1875-1961); Carl Rogers (1902-1987); Paulo Freire (1921-1997),… Từ đó đến nay, HTTN đã được ứng dụng rộng rãi trên nhiều lĩnh vực ở các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới; đồng thời được coi là “làn gió mới” trong giáo dục ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam và đang tiếp tục được nghiên cứu sâu kĩ hơn vào các môn học. Sau đây, chúng tôi sẽ phân tích ba mô hình HTTN đặc trưng nhất để thấy được quan điểm chung và hướng phát triển hoàn thiện hơn của lí thuyết HTTN. 1) Mô hình 1: Theo [28] mô hình nghiên cứu hành động và đào tạo trong phòng thí nghiệm của Kurt Lewin (1890-1947) phản ánh một chu trình khép kín: Sơ đồ 1.1 Mô hình HTTN của Kurt Lewin bắt đầu với kinh nghiệm cụ thể/kinh nghiệm rời rạc – sẵn có của người học hoặc có được tức thì thông qua hành vi nào đó; qua sự quan sát và phản hồi về kinh nghiệm đó; các kinh nghiệm này sẽ được khái quát để hình thành các khái niệm – tri thức mới; cuối cùng đưa chúng vào thử nghiệm trong tình hình mới để nhận xét tính ứng dụng và hiệu quả.
Quay lại vòng lặp, tri thức mới sẽ lại trở thành vốn kinh nghiệm ban đầu để người học khám phá các tri thức tiếp sau. Thông qua một loạt thao tác hành vi: quan sát, phản ánh, phân tích, khái quát, thử nghiệm 15 thì tri thức mới thực sự ra đời, nhận thức của con người thay đổi. Vì thế, có thể coi học tập là một quá trình kết nối giữa nhận thức và hành vi. Mô hình này của Kurt Lewin có hai điểm đáng lưu ý.
Thứ nhất, nhấn mạnh vào kinh nghiệm cụ thể ban đầu. Kinh nghiệm cụ thể này đóng vai trò xác thực và kiểm tra các khái niệm trừu tượng. Kinh nghiệm cụ thể ban đầu của mỗi người khác nhau là khác nhau và nó sẽ ảnh hưởng đến sự quan sát, sự khái quát để hình thành khái niệm mới theo cái nhìn chủ quan của mỗi người học.