Luận Án Về Dạy Học Chủ Đề Giới Hạn Tại Trường Trung Học Phổ Thông Để Phát Triển Tư Duy Bậc Cao

Chuyên khảo giáo dục phân tích Luận án dạy học chủ đề giới hạn cho học sinh ở trường trung học phổ thông theo hướng cải thiện năng, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

362
1
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Tổng quan các kết quả nghiên cứu về tư duy và tư bậc cao

1.2. Nghiên cứu về tư duy

1.3. Các nghiên cứu về tư duy bậc cao

1.4. Phân loại tư duy

1.5. Con đường hình thành và phát triển tư duy

1.6. Nhận thức và siêu nhận thức

1.7. Siêu nhận thức

1.8. Tư duy bậc cao

1.9. Thành tố của tư duy bậc cao

1.10. Biểu hiện và các mức độ của TDBC

1.11. Phát triển TDBC cho HS trong dạy học môn toán ở trường THPT

1.12. Sự cần thiết hình thành và phát triển TDBC cho học sinh THPT

1.13. Định hướng chung về DH phát triển TDBC cho học sinh THPT

1.14. Một số PP DH theo hướng phát triển tư duy bậc cao cho HS THPT

1.15. Tổ chức dạy học phát triển tư duy bậc cao cho học sinh THPT

1.16. Thực trạng của việc rèn luyện và phát triển TDBC cho HS trong DH môn Toán nói chung và DH Giải tích ở trường THPT nói riêng

1.17. Kết quả khảo sát đối với giáo viên

1.18. Nhận xét rút ra từ kết quả khảo sát

1.19. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: DẠY HỌC CHỦ ĐỀ GIỚI HẠN THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN TƯ DUY BẬC CAO CHO HS TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

2.1. Nguyên tắc chung trong việc đề xuất các biện pháp DH theo hướng phát triển TDBC cho học sinh THPT

2.2. Đảm bảo các mục tiêu DH của môn Toán đồng thời rèn luyện và phát triển TDBC cho học sinh THPT

2.3. Đảm bảo tích cực hoá hoạt động người học thông qua giao việc, tạo điều kiện để người học phát huy hết phẩm chất, năng lực và chủ động chiếm lĩnh tri thức

2.4. Khả thi trong điều kiện thực tiễn ở Việt Nam giúp GV có thể vận dụng vào việc DH tại các trường THPT

2.5. Một số biện pháp DH theo hướng phát triển TDBC cho HS THPT

2.5.1. Rèn luyện kỹ năng đặt câu hỏi cho HS trong dạy học theo hướng phát triển TDBC

2.5.2. Thiết kế và sử dụng hệ thống các tình huống DH theo hướng phát triển TDBC cho học sinh

2.5.3. Tổ chức DH theo dự án nhằm phát triển TDBC cho HS

2.6. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích thực nghiệm

3.2. Đối tượng thực nghiệm

3.3. Thời gian và phương án thực nghiệm

3.4. Thực nghiệm thăm dò

3.5. Thực nghiệm chính thức

3.6. Nội dung thực nghiệm

3.7. Kết quả thực nghiệm và biện luận

3.8. Các bình diện được đánh giá

3.9. Phân tích kết quả thực nghiệm và biện luận

3.10. Kết luận chương 3

4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về dạy học giới hạn cho học sinh trung học phổ thông

Chủ đề dạy học giới hạn cho học sinh trung học phổ thông (THPT) là một trong những nội dung quan trọng trong chương trình giáo dục hiện nay. Việc phát triển tư duy bậc cao cho học sinh không chỉ giúp các em nắm vững kiến thức mà còn rèn luyện kỹ năng tư duy phản biện, sáng tạo. Theo nghiên cứu, giáo dục trung học cần chuyển từ phương pháp dạy học truyền thống sang các phương pháp tích cực hơn, nhằm khuyến khích học sinh tham gia vào quá trình học tập. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh giáo dục hiện đại, nơi mà việc phát triển kỹ năng tư duy là một trong những mục tiêu hàng đầu. Các phương pháp dạy học hiện đại như dạy học theo dự án, tổ chức tình huống dạy học, hay rèn luyện kỹ năng đặt câu hỏi sẽ giúp học sinh phát triển tư duy bậc cao một cách hiệu quả.

II. Cơ sở lý luận về tư duy bậc cao

Tư duy bậc cao (TDBC) được định nghĩa là loại tư duy không theo thuật toán, liên quan đến việc tạo ra nhiều giải pháp cho một vấn đề phức tạp. Theo Resnick, TDBC bao gồm các kỹ năng như tư duy phê phán, tư duy sáng tạosiêu nhận thức. Những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng việc phát triển TDBC cho học sinh THPT là cần thiết để đáp ứng yêu cầu của nền giáo dục hiện đại. Các tác giả như Phan Thị Luyến và Lê Hải Yến đã nhấn mạnh rằng việc rèn luyện TDBC không chỉ giúp học sinh giải quyết vấn đề mà còn phát triển khả năng tự học và tự điều chỉnh. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực trong quá trình giáo dục, nhằm phát triển toàn diện cho học sinh.

III. Phương pháp dạy học theo hướng phát triển tư duy bậc cao

Để phát triển TDBC cho học sinh THPT, cần áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại. Một trong những phương pháp hiệu quả là dạy học theo dự án, nơi học sinh được khuyến khích làm việc nhóm và giải quyết các vấn đề thực tiễn. Ngoài ra, việc thiết kế và sử dụng các tình huống dạy học cũng rất quan trọng. Các tình huống này không chỉ giúp học sinh áp dụng kiến thức mà còn phát triển khả năng phân tích và đánh giá. Việc rèn luyện kỹ năng đặt câu hỏi cho học sinh cũng là một biện pháp quan trọng, giúp các em chủ động hơn trong việc tìm kiếm kiến thức. Những phương pháp này không chỉ giúp học sinh phát triển TDBC mà còn tạo ra môi trường học tập tích cực và sáng tạo.

IV. Thực trạng và kết quả khảo sát

Kết quả khảo sát cho thấy rằng nhiều giáo viên vẫn còn gặp khó khăn trong việc áp dụng các phương pháp dạy học phát triển TDBC cho học sinh. Một số giáo viên chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc phát triển TDBC trong quá trình dạy học. Tuy nhiên, cũng có nhiều giáo viên đã tích cực áp dụng các phương pháp mới và đạt được những kết quả khả quan. Việc đánh giá thực trạng này là cần thiết để đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học. Các kết quả khảo sát cũng cho thấy rằng học sinh có nhu cầu cao về việc được tham gia vào các hoạt động học tập tích cực, điều này cho thấy sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học trong các trường THPT.

V. Kết luận và đề xuất

Việc dạy học chủ đề giới hạn cho học sinh THPT theo hướng phát triển TDBC là một nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục hiện đại. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học. Đề xuất các biện pháp dạy học tích cực, như tổ chức các hoạt động trải nghiệm, dạy học theo dự án và rèn luyện kỹ năng đặt câu hỏi, sẽ giúp học sinh phát triển TDBC một cách hiệu quả. Đồng thời, cần có sự hỗ trợ từ các cơ quan quản lý giáo dục để tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên trong việc áp dụng các phương pháp dạy học mới. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng giáo dục mà còn giúp học sinh phát triển toàn diện về phẩm chất và năng lực.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan các kết quả nghiên cứu về tư duy và tư bậc cao 1. Nghiên cứu về tư duy Tư duy - thành phần cốt lõi của trí tuệ là một hoạt động phong phú, phức tạp trong tâm lí học, là một trong rất ít lĩnh vực được đề cập ngay từ những ngày khởi nguyên của khoa học tâm lí giáo dục.

Cho đến nay, tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về bản chất các quy luật phát sinh, phát triển của tư duy; nhiều chương trình dạy học có tính cách mạng được xây dựng trên nền tảng khoa học về trí tuệ, về tư duy, song nghiên cứu về trí tuệ nói chung và về tư duy nói riêng vẫn đang được tiếp tục bàn luận trên nhiều diễn đàn khoa học về tâm lý và giáo dục học. Vào đầu thế kỷ XIX, các nhà nghiên cứu đã tiếp cận nghiên cứu tư duy [18.] theo các hướng sau: Các nhà triết học, tâm lý học người Anh Đ. Spenxơ với cách tiếp cận liên tưởng vấn đề tư duy, đã dựa vào cơ chế phản xạ có điều kiện do P. Pavlov phát hiện làm cơ sở sinh lý thần kinh của các mối liên tưởng tâm lý.

Các tác giả đã cho rằng tư duy là quá trình thay đổi tự do, tập hợp các hình ảnh, là liên tưởng các biểu tượng; tư duy luôn gắn liền với hình ảnh của sự vật hiện tượng. Một số nhà tâm lí học khác như O. Biulơ với cách tiếp cận tư duy theo hành động tinh thần đã cho rằng: “Tư duy là hành động bên trong của chủ thể nhằm xem xét các mối quan hệ. Hành động tư duy là công việc của cái “tôi”chủ thể, nó chịu ảnh hưởng của nhiệm vụ tư duy (bài toán tư duy) và bài toán tư duy định hướng cho hành động tư duy.

Thực chất của việc giải bài toán tư duy là sự vận hành của các thao tác trí tuệ như phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa”[47. Quan điểm của O. Biulơ là bước tiến lớn trên con đường tìm hiểu bản chất của tư duy, song trường phái này lại cực đoan cho rằng tư duy thuần túy là hành động bên trong, không liên quan gì tới các nhân tố bên ngoài. Vì thế, vấn đề bản chất xã hội và logic tâm lý của tư duy vẫn còn để ngỏ.

Skinner là các đại diện tiêu biểu cho trường phái tâm lý học hành vi.Watson đồng nhất tư duy với hành vi trí tuệ. Tư duy cũng được hình thành 7 theo cơ chế phản xạ và cần phải luyện tập thường xuyên; tư duy có thể được bộc lộ ra bên ngoài qua các hành động. Do đó, ông chia tư duy thành ba dạng: Thứ nhất là các thói quen, kỹ xảo, ngôn ngữ đơn giản. Thứ hai là giải quyết các nhiệm vụ tuy không mới, nhưng ít gặp và phải có hành vi ngôn ngữ kèm theo.

Thứ ba là giải quyết nhiệm vụ mới, buộc chủ thể rơi vào hoàn cảnh phức tạp, đòi hỏi phải giải quyết bằng ngôn ngữ trước khi thực hiện một hành động cụ thể [21. Như vậy, công lao to lớn của Thuyết hành vi là đưa tính khách quan, tính khoa học vào nghiên cứu trí tuệ con người và muốn nghiên cứu khách quan tư duy con người thì phải nghiên cứu hành vi của họ. Piaget và cộng sự khi nghiên cứu tư duy, trí tuệ thông qua hai nội dung gắn bó hữu cơ với nhau đó là học thuyết về cấu trúc, chức năng và sự phát sinh, phát triển của trí tuệ. Trên quan điểm sinh học và logic học, J.

Piaget đã cho rằng: Trí tuệ có bản chất thao tác (operations) và trẻ em xây dựng lên bằng chính những hành động (action) của mình. Sự phát triển trí tuệ được hiểu là sự phát triển hệ thống thao tác [47. Như vậy, thao tác chính là hành động bên ngoài, hành động có tính rút gọn quá trình tư duy và có những đối tượng thao tác không phải là các sự vật thật mà là các biểu tượng, ký hiệu, hình ảnh do đó tư duy có thể đánh giá được thông qua hoạt động và kết quả của hoạt động. Theo Nguyễn Bá Kim [32.]: “Trí tuệ cá nhân được phát triển từ thấp đến cao và tuân theo hai quy luật tăng trưởng liên tục và phát triển nhảy vọt.

Mỗi lứa tuổi có đặc trưng riêng về chất lượng trí tuệ và được coi là một giai đoạn phát triển”. Trong nghiên cứu này, tác giả đã đề cao yếu tố trưởng thành sinh học của cá nhân nên chưa thấy được vai trò chủ đạo của yếu tố xã hội. Từ những năm 1930 của thế kỷ XX, tiếp cận tư duy, trí tuệ từ hoạt động, L.Galperin… đã khai thác triệt để thành tựu của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử vào trong nghiên cứu hoạt động trí tuệ và tư duy. Luận điểm cơ bản của học thuyết là: “Tâm lý, tư duy của con người được hình thành và biểu hiện ra bên ngoài qua hoạt động, mà trước hết là lao động sản xuất và hoạt động xã hội.

Vì vậy, muốn nghiên cứu tâm lý, tư duy của con người một cách khách quan, tất yếu phải bắt đầu từ nghiên cứu toàn bộ đời sống (cấu trúc, lịch sử phát sinh hình thành và phát triển) của hoạt động thực tiễn của con người” [21. Vygotsky đưa ra một nhận định quan trọng: “Trí tuệ của trẻ em 8 được hình thành bằng chính hoạt động của nó, mỗi giai đoạn phát triển có nhiều hoạt động trong đó có hoạt động chủ đạo” [54. Ông còn cho rằng: “Trí tuệ bậc cao của trẻ là sản phẩm của hoạt động và hợp tác của nó với người lớn, vì vậy dạy học hợp tác giữa người dạy và người học là phương thức mang lại hiệu quả nhất. Dạy học, theo đúng chức năng của nó là dạy học phát triển.

Muốn vậy, nó không được đi sau sự phát triển, phụ họa cho sự phát triển. Dạy học phải đi trước sự phát triển, kéo theo sự phát triển. Tức là dạy học không hướng vào trình độ phát triển hiện thời mà tác động vào vùng phát triển gần nhất trong trí tuệ học sinh” [19. Bước sang thế kỷ XX, J.

Guilford đã đề xuất mô hình cấu trúc 3 mặt của trí tuệ. Theo đó, trí tuệ có 2 thành phần: tư duy hội tụ (Overgence thinking) và tư duy phân kỳ (Divergence thinking). Trong đó, tư duy hội tụ là thành phần logic của trí tuệ và tư duy phân kỳ là tư duy sáng tạo, làm cơ sở để cá nhân tạo ra cái mới, độc đáo và có ích cho xã hội [47. Với quan niệm quy hẹp trí tuệ vào các thành phần cốt lõi của nó là tư duy V.

Perkins cho rằng: “Việc nâng cao năng lực hoạt động của hệ thần kinh là rất phức tạp, lâu dài và nhà trường có vai trò to lớn. Do vậy, giải pháp tốt nhất để phát triển trí tuệ của HS là nhà trường cần tập trung vào vấn đề thủ thuật tư duy, rèn luyện các chiến thuật tư duy. Để tư duy hiệu quả, người học phải nắm được 3 cấp độ của trạng thái tư duy:  Nhận thức vấn đề, tức là xây dựng khung nhận thức - khung tư duy của từng cá nhân và sự biến đổi của nó;  Nhập tâm (tự động hóa), tức là giai đoạn các khung tư duy, các thao tác tư duy được rèn luyện tới mức có thể áp dụng vào từng trường hợp cụ thể một cách tự giác, thuần thục;  Chuyển hóa (chuyển giao), tức là sử dụng khung tư duy vào các hoàn cảnh khác nhau” [47. Sternberg: “Năng lực trí tuệ và năng lực tư duy không thể tách rời nhau, mặc dù năng lực trí tuệ rộng hơn.

Ông gọi tên ba thành phần trí tuệ đó là: cấu trúc, kinh nghiệm, điều kiện và coi thành phần cấu trúc trí tuệ chính là cấu trúc của kỹ năng tư duy. Trong cấu trúc này có 3 thành phần:  siêu cấu trúc là thành phần điều khiển, có chức năng lập kế hoạch, theo dõi và đánh giá các chiến lược giải quyết các vấn đề của cá nhân;  thành phần thực hiện, giúp cá nhân triển khai các chỉ dẫn của thành phần siêu cấu trúc, trong đó quan trọng nhất là việc suy luận ra các mối quan hệ;  thành phần tiếp thu tri thức, liên quan chủ yếu đến khả năng tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ mà điểm then chốt là xác định yếu tố phù hợp” [47. 9 Khi thế giới ngày càng trở nên “phẳng” hơn, trí tuệ nhân tạo ngày càng chiếm ưu thế đã đặt giáo dục đứng trước cơ hội và thách thức mới. Với việc coi vấn đề căn nguyên, gốc rễ để tìm ra PP giáo dục hợp lý là tập trung vào bản chất tư duy của con người, Bernie Trilling và Charles Fadel đã xác định các kỹ năng cần có của công dân toàn cầu trong khung học tập thế kỷ XXI với công thức: “3Rs x 7Cs”.

3Rs gồm:  Kỹ năng đọc,  viết,  tính toán và 7Cs gồm:  Kỹ năng tư duy phê phán và giải quyết vấn đề;  Kỹ năng sáng tạo và đổi mới;  Kỹ năng hợp tác và làm việc nhóm;  thông hiểu các nền văn hóa;  Kỹ năng truyền thông đa phương tiện;  Kỹ năng máy tính và công nghệ thông tin;  Kỹ năng nghề nghiệp và tự học [103. Các nghiên cứu về tư duy bậc cao Tuy đã xuất hiện từ nhiều thập kỉ qua và có nhiều nhà khoa học trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã nghiên cứu nhưng cho đến nay sự hiểu biết tường tận về TDBC (khái niệm, về cấu trúc và những biểu hiện, tầm quan trọng của TDBC. ) vẫn còn chưa nhiều và đang cần được quan tâm đúng mức. Fisher, Marzano, Zohar và Schwarter cho rằng: “Phát triển và nâng cao TDBC của HS là mục tiêu chính của giáo dục” [102.

Kết quả khảo sát về quan điểm DH phát triển tư duy của Yee và cộng sự trên đối tượng GV cũng nhận được kết quả: “Hầu hết các GV đều cho rằng việc dạy TDBC cho HS là quan trọng” [102. Fisher tin rằng:“Sự phát triển TDBC của HS chính là điều cần thiết cho việc học tập suốt đời của mỗi con người. Nói cách khác, chúng ta cần những HS biết cách suy nghĩ để có thể đáp ứng không ngừng với nhu cầu luôn thay đổi của thế giới thực” [99. Theo Wendy Conklin: “Các kỹ năng TDBC là để phát triển việc học trong thế kỷ XXI” [101.

Nhóm tác giả Đại học bang North Carolina của Hoa Kỳ cũng thừa nhận có loại hình TDBC và khẳng định: “Dạy học phát triển TDBC cho HS có vai trò đặc biệt quan trọng đối với QT DH” [93.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận Án Về Dạy Học Chủ Đề Giới Hạn Tại Trường Trung Học Phổ Thông Để Phát Triển Tư Duy Bậc Cao" của tác giả Nguyễn Thị Quốc Hòa, dưới sự hướng dẫn của TS. Đào Thái Lai và TS. Cao Thị Hà, được thực hiện tại Đại học Thái Nguyên vào năm 2019. Bài viết tập trung vào việc áp dụng phương pháp dạy học chủ đề giới hạn nhằm phát triển tư duy bậc cao cho học sinh trung học phổ thông. Nội dung của luận án không chỉ cung cấp những lý thuyết cơ bản về dạy học mà còn đưa ra các phương pháp thực tiễn để nâng cao khả năng tư duy phản biện và giải quyết vấn đề cho học sinh.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực giáo dục và phương pháp dạy học, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Luận Án Tiến Sĩ Về Dạy Học Xác Suất Thống Kê Tại Trường Trung Học Phổ Thông", nơi nghiên cứu về phương pháp dạy học xác suất và thống kê, cũng như "Luận án tiến sĩ về phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh vùng Tây Bắc trong dạy học hóa học phi kim", tập trung vào việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về "Luận văn thạc sĩ: Phát triển năng lực tự học cho học sinh qua hệ thống bài tập hóa học lớp 12", một nghiên cứu về cách thức nâng cao năng lực tự học cho học sinh thông qua các bài tập thực tiễn. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các phương pháp dạy học hiện đại và phát triển tư duy cho học sinh.