Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn. Chương 2: Biện pháp dạy học chủ đề “Giải bài toán bằng cách lập phương trình, hệ phương trình” theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trường trung học cơ sở. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Quan điểm giáo dục về dạy học phát triển năng lực học sinh 1. Năng lực giải quyết vấn đề 1. Khái niệm năng lực Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: "Năng lực là đặc điểm của cá nhân, thể hiện mức độ thông thạo – tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn một hay một số dạng hoạt động nào đó" [9]. Theo Từ điển Tiếng Việt: "Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao" [16].
Theo Hoàng Hòa Bình (2015), năng lực được xem là một đặc điểm cá nhân hình thành và phát triển thông qua sự kết hợp của các tố chất có sẵn và quá trình học tập, rèn luyện. Năng lực cho phép con người thực hiện thành công một loại hoạt động cụ thể và đạt được kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Hai đặc trưng chính của năng lực là sự bộc lộ và thể hiện thông qua hoạt động và đảm bảo hiệu quả và đạt được kết quả mong muốn trong hoạt động đó [2]. Theo Chương trình giáo dục Phổ thông tổng thể 2018: "Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,.
thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể" [3]. Mô hình chung cấu trúc năng lực 5 Vì vậy, chúng ta có thể hiểu rằng năng lực là một đặc điểm của cá nhân, có thể tồn tại sẵn có hoặc được hình thành và phát triển thông qua quá trình học tập và rèn luyện. Năng lực cho phép con người sử dụng và kết hợp các kiến thức, kỹ năng và phẩm chất để thực hiện các hoạt động cụ thể và đạt được kết quả mong muốn trong điều kiện đặc thù. Khái niệm vấn đề Theo Phạm Hữu Tòng, trong quá trình giảng dạy, vấn đề được sử dụng để chỉ một thách thức, một nhiệm vụ nhận thức mà người học không thể giải quyết chỉ bằng những kinh nghiệm có sẵn hoặc theo một mô hình đã có.
Điều này có nghĩa là không thể chỉ sử dụng tư duy đơn thuần để giải quyết vấn đề, và khi người học thành công trong việc giải quyết, họ sẽ thu được kiến thức và kỹ năng mới. Theo Nguyễn Bá Kim (2011), một vấn đề được xem là một bài toán khi chủ thể không biết cách áp dụng một phương pháp nào để tìm ra giải pháp cho phần chưa biết của bài toán. Vấn đề không đồng nghĩa với bài toán. Những bài toán có thể giải trực tiếp bằng cách áp dụng một phương pháp cụ thể, ví dụ như giải một phương trình bậc hai sử dụng các công thức đã được học, thì không được coi là vấn đề.
Theo tác giả Lecne: "Trong quá trình học sinh giải quyết một cách sáng tạo các vấn đề và bài toán có vấn đề trong một hệ thống nhất định thì diễn ra sự lĩnh hội sáng tạo các tri thức và kĩ năng, sự nắm kinh nghiệm hoạt động sáng tạo mà xã hội tích lũy được, sự hình thành nhân cách có tính tích cực công dân, có trình độ phát triển cao và có ý thức tự giác của xã hội xã hội chủ nghĩa" [10]. Như vậy, vấn đề chứa đựng một hoặc nhiều câu hỏi, nhưng là câu hỏi về cái chưa biết, mà để trả lời được câu hỏi đó đòi hỏi phải tìm tòi sáng tạo, phải học hỏi, tiếp thu kiến thức mới chứ không thể giải quyết được bằng cách đơn thuần nhớ lại kiến thức đã có. Khi người học phải tự lực giải quyết vấn đề, họ gặp nhiều khó khăn cản trở họ tìm ra câu trả lời. Chính mâu thuẫn đó đã thúc đẩy hoạt động tư duy, kích thích người học tìm tòi, tạo động lực sáng tạo các kiến thức, kĩ năng mới.
Giải quyết vấn đề Theo Krulik và Rudnick (1987), giải quyết vấn đề chỉ quá trình mà một cá nhân sử dụng kiến thức, kĩ năng và hiểu biết đã có để đáp ứng đòi hỏi của những tình huống không quen thuộc đang gặp phải [24]. Như vậy, có thể hiểu giải quyết vấn đề là quá trình xử lý hoặc giải quyết một sự cố hoặc thắc mắc, bằng cách sử dụng các phương pháp hoặc quy trình để tìm ra một giải pháp hợp lý. Trong toán học, việc giải quyết vấn đề là quá trình áp dụng các công thức, phương pháp và kiến thức toán học để giải quyết một bài toán cụ thể hoặc vấn đề. Điều này có thể bao gồm sử dụng các phép tính, phân tích dữ liệu, xử lý số liệu và các phương pháp khác để tìm ra một giải pháp hoặc kết luận hợp lý.
Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề Theo định nghĩa của PISA: "Năng lực giải quyết vấn đề là khả năng của một cá nhân hiểu và giải quyết tình huống vấn đề khi mà giải pháp giải quyết chưa rõ ràng. Nó bao gồm sự sẵn sàng tham gia vào giải quyết tình huống vấn đề đó – thể hiện tiềm năng là công dân tích cực và xây dựng" [26]. Theo Nguyễn Thị Lan Phương (2016): "Năng lực giải quyết vấn đề là khả năng của một cá nhân “huy động”, kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… để hiểu và giải quyết vấn đề trong tình huống nhất định một cách hiệu quả và với tinh thần tích cực" [17]. Vì vậy, khả năng giải quyết vấn đề có thể hiểu là khả năng hiệu quả của một cá nhân trong việc sử dụng quá trình nhận thức để hiểu và giải quyết các tình huống gặp phải vấn đề, trong đó học sinh không thể tìm ra giải pháp một cách dễ dàng ngay lập tức.
Điều này bao gồm cả thái độ sẵn lòng tham gia vào các tình huống gặp vấn đề để trở thành một công dân xây dựng và có khả năng tự phản ánh. Khả năng giải quyết vấn đề của học sinh là khả năng kết hợp và áp dụng kinh nghiệm cá nhân, kiến thức và kỹ năng 7 từ các môn học trong chương trình trung học phổ thông để thành công trong việc giải quyết các tình huống có vấn đề trong học tập và cuộc sống của họ, với một thái độ tích cực. Biểu hiện năng lực giải quyết vấn đề Theo chương trình Giáo dục Phổ thông 2018, biểu hiện cụ thể của năng lực giải quyết vấn đề toán học đối với cấp trung học cơ sở được thể hiện trong bảng sau [4] Thành phần năng lực giải quyết vấn đề Đối với cấp trung học cơ sở Nhận biết, phát hiện được vấn đề cần giải Phát hiện được vấn đề cần giải quyết bằng toán học quyết Lựa chọn, đề xuất được cách thức, giải Xác định được cách thức, giải pháp giải quyết vấn đề pháp giải quyết vấn đề Sử dụng được các kiến thức, kĩ năng toán Sử dụng được các kiến thức, kĩ học tương thích (bao gồm các công cụ và năng toán học tương thích để thuật toán) để giải quyết vấn đề đặt ra giải quyết vấn đề Đánh giá được giải pháp đề ra và khái quát Giải thích được giải pháp đã hóa được cho vấn đề tương tự thực hiện Bảng 1. Yêu cần cần đạt đối với năng lực giải quyết vấn đề toán học 1.
Cấu trúc năng lực giải quyết vấn đề Cấu trúc năng lực giải quyết vấn đề phát triển ở học sinh gồm 4 thành tố, mỗi thành tố bao gồm một số hành vi cá nhân khi làm việc độc lập hoặc khi làm việc nhóm trong quá trình giải quyết vấn đề. Cụ thể là: - Tìm hiểu vấn đề: nhận biết vấn đề, phân tích được tình huống cụ thể, phát hiện được tình huống có vấn đề, chia sẻ sự am hiểu về vấn đề với người khác. - Đề xuất giải pháp: lựa chọn, sắp xếp, tích hợp thông tin với kiến thức đã học. Xác định thông tin, biết tìm hiểu các thông tin có liên quan, từ đó xác định cách thức, quy trình, chiến lược giải quyết và thống nhất cách hành động.
- Lập kế hoạch và thực hiện giải pháp: 8 + Lập kế hoạch: thiết lập tiến trình thực hiện (thu thập dữ liệu, thảo luận, xin ý kiến, giải quyết các mục tiêu…), thời điểm giải quyết từng mục tiêu. + Thực hiện kế hoạch: thực hiện và trình bày giải pháp, điều chỉnh kế hoạch để phù hợp với thực tiễn và không gian vấn đề khi có sự thay đổi. - Đánh giá và phản ánh giải pháp: Thực hiện và đánh giá giải pháp giải quyết vấn đề. Suy ngẫm về cách thức và tiến trình giải quyết vấn đề.
Điều chỉnh và vận dụng trong tình huống mới, xác nhận những kiến thức và kinh nghiệm thu được. Đề xuất giải pháp cho những vấn đề tương tự. Theo Trần Minh Mẫn (2019), cấu trúc năng lực giải quyết vấn đề được mô tả bởi 4 thành tố và các chỉ số hành vi được mô tả bởi bảng sau [14]: Năng lực Mức độ Tiêu chí thành phần Mức 1 Mức 2 Mức 3 Chưa phân tích Phân tích được một Phân tích được 1. Phân tích được nhiệm vụ số yếu tố của nhiệm nhiệm vụ hoặc tình huống, hoặc tình huống vụ hoặc tình huống tình huống trong phát hiện đã cho để phát đã cho nhưng chưa học tập một cách vấn đề hiện vấn đề đầy đủ logic và đầy đủ Tìm hiểu vấn đề Phát biểu vấn đề phù hợp với Phát biểu vấn đề 2.
Phát biểu Chưa phát biểu nhiệm vụ, tình với một số thông tin vấn đề thành vấn đề huống đã cho một rời rạc, chưa đầy đủ cách logic và đầy đủ 9 Đưa ra một số Đưa ra đầy đủ Chỉ ra một số thông tin phù hợp thông tin phù hợp thông tin ban đầu 3. Xác định với mục tiêu của với mục tiêu của ít liên quan đến thông tin và nhiệm vụ, hoặc tình nhiệm vụ, hoặc mục tiêu của mối liên hệ huống đã đặt ra tình huống đã đặt nhiệm vụ, tình giữa các nhưng chưa xác ra và phát hiện huống đã cho và thông tin định được mối liên được mối liên hệ không giải thích hệ giữa các thông giữa các thông tin gì thêm tin đó đó 4.