phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn Chƣơng 2: Một số biện pháp sư phạm nhằm phát triển năng lực tư duy và lập luận toán học cho học sinh trong dạy học chủ đề đường tròn Chƣơng 3: Thực nghiệm sư phạm 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Năng lực và năng lực toán học 1. Khái niệm năng lực Trên thế giới các nước luôn có sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề năng lực trong lĩnh vực nghiên cứu và thực hiện. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm năng lực vì vậy chưa có một định nghĩa thống nhất.
Ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu của các công trình tâm lý và giáo dục học cho thấy từ nền tảng các khả năng ban đầu, trẻ em bước vào hoạt động. Qua quá trình hoạt động mà hình thành dần cho mình những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cần thiết và ngày càng phong phú, rồi từ đó nảy sinh những khả năng mới với mức độ mới cao hơn. Đến một lúc nào đó, trẻ em đủ khả năng để giải quyết được những yêu cầu của hoạt động khác thì lúc đó các em sẽ có một năng lực nhất định. Dưới đây là một số quan điểm khác nhau, một số định nghĩa khác nhau về năng lực.
Theo Từ điển Tiếng Việt, năng lực có nghĩa là: “Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [Error! Reference source not found. Nhấn mạnh đến tính mục đích và nhân cách của năng lực, Phạm Minh Hạc đưa ra định nghĩa: “Năng lực chính là một tổ hợp các đặc điểm tâm lí của một con người (còn gọi là tổ hợp thuộc tính tâm lí của một nhân cách), tổ hợp đặc điểm này vận hành theo một mục đích nhất định tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy”. Bùi Văn Huệ: “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động đó”. Hoàng Ngọc Anh: “Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, 6 kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí” [Error! Reference source not found.
Có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực nhưng tác giả thống nhất theo quan điểm của chương trình giáo dục phổ thông mới: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, … thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Như vậy quan điểm trên xác định: - Năng lực là sự kết hợp giữa tố chất sẵn có và quá trình học tập rèn luyện của người học. - Năng lực là sự tích hợp của kiến thức kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… - Năng lực được hình thành, phát triển thông qua hoạt động và thể hiện ở sự thành công trong hoạt động thực tiễn. Khái quát lại có thể hiểu năng lực của mỗi người được hình thành, phát triển dựa trên cơ sở tư chất kết hợp với sự tác động của rèn luyện, bồi dưỡng, dạy học và giáo dục.
Bản thân năng lực cần phải được gắn với một nền tảng kiến thức nhất định và một hệ thống các kĩ năng tương ứng để thực hiện công việc đạt hiệu quả.Năng lực toán học 1. Một số quan niệm về năng lực toán học Đã có nhiều công trình nghiên cứu về năng lực toán học từ những phương diện và dưới nhiều góc độ khác nhau. Trong tài liệu tập huấn PISA của tác giả Lê Thị Mỹ Hà (chủ biên): “Năng lực toán học là khả năng của một cá nhân biết lập công thức, vận dụng và giải thích toán học trong nhiều ngữ cảnh. Nó bao gồm suy luận toán học và 7 sử dụng các khái niệm, phương pháp, sự việc và công cụ để mô tả, giải thích và dự đoán các hiện tượng.
Nó giúp cho con người nhận ra vai trò của toán học trên thế giới và đưa ra phán đoán và quyết định của công dân biết góp ý, tham gia và suy ngẫm” [9]. Theo Trần Luận (2011), “Năng lực toán học là những đặc điểm tâm lí đáp ứng được yêu cầu hoạt động học toán và tạo điều kiện lĩnh hội các kiến thức, kĩ năng trong lĩnh vực toán học tương đối nhanh, dễ dàng và sâu sắc trong những điều kiện như nhau” [16]. Tác giả Hoàng Ngọc Anh quan niệm: “Năng lực toán học là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng về môn Toán và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí [Error! Reference source not found. Niss cũng xác định tám thành tố của NL toán học và chia thành hai cụm (xem Hình 1).
Cụm thứ nhất bao gồm: NL tư duy toán học Hình 1. Các thành tố của năng lực toán học (mathematical thinking competency); NL giải quyết vấn đề toán học (problems tackling competency); NL mô hình hóa toán học (modelling competency); NL suy luận toán học (reasoning competency). Cụm thứ hai bao gồm: NL biểu diễn (representing competency); NL sử dụng ngôn ngữ kí hiệu, hình thức (symbols and formalism competency); NL giao tiếp toán học (communicating competency); NL sử dụng công cụ, phương tiện học toán 8 (aids and tools competency). Tám NL đó tập trung vào những gì cần thiết để cá nhân có thể học tập và ứng dụng toán học.
Các NL này không hoàn toàn độc lập mà liên quan chặt chẽ và có phần giao thoa với nhau. Ngoài ra, khi phân tích các nghiên cứu quốc tế, chúng tôi liệt kê trong Bảng dưới đây quan niệm của các nước về các thành tố của NL toán học Bảng 1.1: Quan niệm của các nước trên thế giới về các thành tố của NLTH Nước/Tổ Các thành tố của NL chức toán học PISA NL tư duy và suy luận; NL lập luận; NL mô hình hóa; NL đặt và giải quyết vấn đề; NL giao tiếp; NL biểu diễn; NL sử dụng ngôn ngữ, kí hiệu hình thức; NL sử dụng các phương tiện hỗ trợ và công cụ. TIMSS Miền nhận thức toán học: Hiểu biết; Suy luận; p dụng. Bang Ontario NL lập luận và chứng minh; NL giải quyết vấn đề; NL giao (Canada) tiếp; NL phản hồi; NL kết nối; NL biểu diễn; NL lựa chọn công cụ và chiến lược tính toán.
Bang Alberta NL giao tiếp; NL kết nối; NL tính nhẩm và ước lượng; NL (Canada) giải quyết vấn đề; NL suy luận; NL công nghệ (technology); NL trực quan (visualization). Bang NL lập luận; NL mô hình hóa; NL giải quyết vấn đề; NL giao Niedersachsen tiếp; NL sử dụng các biểu diễn toán học; NL làm việc với các (Cộng hòa liên biểu tượng và kí hiệu của môn Toán. bang Đức) NCTM (Hiệp hội Giải quyết vấn đề; Suy luận và chứng minh; Giao tiếp; Kết giáo viên Toán nối; Biểu diễn. của Mĩ) 9 Ireland NL suy luận; NL tích hợp và kết nối; NL áp dụng và giải quyết vấn đề; NL giao tiếp và trình bày.
Vương quốc Anh Nhấn mạnh 3 NL cốt lõi: Hiểu; Suy luận toán học; Giải quyết vấn đề toán học. Singapore NL suy luận; NL áp dụng kiến thức toán học và mô hình hóa; NL giao tiếp và kết nối. Xuất phát từ quan niệm: mục đích then chốt của việc học toán là để trở thành những con người “thông minh hơn”, biết cách suy nghĩ giải quyết các vấn đề trong học tập và đời sống. Muốn vậy, mỗi người cần biết cách “chuyển dịch”, mô tả các tình huống (có ý nghĩa toán học) đặt ra trong các vấn đề thực tiễn phong phú sang một bài toán hay một mô hình toán học thích hợp, tìm cách giải quyết các vấn đề toán học trong mô hình được thiết lập, từ đó đối chiếu, giải quyết các vấn đề thực tiễn đề ra.
Mặt khác, việc giải quyết các vấn đề toán học gắn liền với việc đọc hiểu, ghi chép, trình bày, diễn đạt các nội dung, ý tưởng, giải pháp toán học trong sự tương tác (thảo luận, tranh luận, phản biện) với người khác, gắn liền với việc sử dụng hiệu quả ngôn ngữ toán học kết hợp với ngôn ngữ thông thường hoặc động tác hình thể. Hơn nữa, NL toán học còn được thể hiện ở việc sử dụng thành thạo và linh hoạt các công cụ và phương tiện học toán, đặc biệt là phương tiện khoa học công nghệ để tìm tòi, khám phá và giải quyết vấn đề toán học. Cùng với những phân tích ở trên, để đưa ra quan niệm về NL toán học, chúng tôi chọn cách tiếp cận phổ biến của các tổ chức và các quốc gia trên thế giới, đó là tiếp cận theo cách nghiên cứu các thành tố của NL toán học. Vì vậy, chúng tôi quan niệm NL toán học bao gồm các thành tố: NL tư duy và lập luận toán học; NL mô hình hóa toán học; NL giải quyết vấn đề toán học; NL giao tiếp toán học; NL sử dụng công cụ, phương tiện học toán.
Biểu hiện của các thành tố của năng lực toán học và yêu cầu cần đạt cuối cấp trung học cơ sở trong chương trình giáo dục phổ thông mới 10 CTGDPT 2018 được xây dựng theo mô hình phát triển năng lực, thông qua những kiến thức cơ bản, thiết thực, hiện đại và các phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học, giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực mà nhà trường và xã hội kì vọng. Theo cách tiếp cận này, kiến thức được dạy học không nhằm mục đích tự thân. Nói cách khác, giáo dục không phải để truyền thụ kiến thức mà nhằm giúp học sinh hoàn thành các công việc, giải quyết các vấn đề trong học tập và đời sống nhờ vận dụng hiệu quả và sáng tạo những kiến thức đã học. Quan điểm này được thể hiện nhất quán ở nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục.