CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Năng lực và dạy học theo hướng phát triển năng lực 1. Khái niệm năng lực Từ góc độ của các nhà tâm lý học, năng lực là tổ hợp các đặc tính tâm lý của con người, vì vậy năng lực mang trong mình những thuộc tính cá nhân; bên cạnh đó, chúng có cả tính mục đích bởi năng lực chỉ được vận hành khi có một mục đích nhất định, nhằm tạo ra một kết quả cụ thể [19].E (2001), năng lực được định nghĩa là những kinh nghiệm tích lũy, những khả năng, kỹ xảo mà cá nhân đã học được hoặc sẵn có được vận dụng một cách linh hoạt để giải quyết các vấn đề cụ thể. Trong tài liệu [17], khi đề cập đến năng lực, tác giả nhấn mạnh tính mục tiêu và tình huống cụ thể “Năng lực là những khả năng, kỹ xảo học được hay sẵn có của cá nhân nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội,… và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt bằng những phương tiện, biện pháp và cách thức phù hợp.” Theo [18] “Năng lực là sự kết hợp của các kiến thức, kĩ năng, phẩm chất, thái độ và hành vi của một cá nhân để thực hiện một công việc có hiệu quả.
Năng lực không chỉ bao hàm kiến thức, kĩ năng, kỹ xảo, mà còn cả giá trị, động cơ, đạo đức và hành vi xã hội.” Do đó có thể nhận thấy năng lực có các đặc trưng sau: - Tính đặc thù, cá nhân hóa: Năng lực của mỗi cá nhân không giống nhau, cách vận hành hệ thống kiến thức, kĩ năng hay khả năng kết hợp linh hoạt của mỗi cá nhân sẽ có sự khác biệt. Thêm vào đó, sự phát triển hay hạn chế về năng lực 5 còn bị ảnh hưởng dưới nhiều yếu tố, ví dụ như môi trường sống, quá trình rèn luyện và học tập của mỗi cá nhân,. - Có mối quan hệ chặt chẽ giữa năng lực cá nhân với hệ thống kiến thức, kỹ năng; giữa hệ thống kiến thức, kĩ năng, kỹ xảo với các đặc điểm cá nhân như niềm tin, sự đam mê, ý chí… Kiến thức là nền tảng, là cơ sở của sự hiểu biết về nội dung nhiệm vụ, vấn đề cần giải quyết mà kỹ năng đang hướng tới. - Tính mục tiêu: năng lực chỉ được huy động khi ở trong tình huống cụ thể, có một vấn đề cần giải quyết hay một nhiệm vụ cần hoàn thành.
Trong luận văn này, năng lực được hiểu là tổ hợp của tri thức, kĩ năng, các thuộc tính cá nhân được huy động khi con người đối mặt với một vấn đề hay một nhiệm vụ trong tình huống cụ thể. Các năng lực cần hình thành và phát triển qua dạy học môn Toán ở trường phổ thông theo Chương trình 2018 - Nhóm năng lực chung bao gồm những năng lực cơ bản và thiết yếu trong hoạt động thường nhật của con người; có thể nói năng lực chung là nền móng trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề. Tám năng lực thuộc nhóm năng lực chung là: năng lực tự học; năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo; năng lực ngôn ngữ và giao tiếp; năng lực hợp tác; năng lực tính toán; năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông; năng lực thẩm mĩ và năng lực thể chất. - Năng lực đặc thù được hiểu là nhóm năng lực chuyên sâu, dựa trên nền tảng của nhóm năng lực chung.
Có nghĩa là những năng lực đặc thù này được hình thành, phát triển và củng cố thông qua một số môn học như toán học, âm nhạc, … thông qua việc rèn luyện qua các hoạt động giáo dục cụ thể, môi trường học tập đặc biệt. Khi người học phát triển nhóm năng lực đặc thù, nhóm năng lực chung cũng được song song phát triển. 6 - Năng lực toán học là một loại năng lực đặc thù mà V.Cruchetxki đã nêu khái niệm là “Những đặc điểm tâm lý cá nhân (trước hết là những đặc điểm của hoạt động trí tuệ) đáp ứng những yêu cầu của hoạt động học tập toán và trong những điều kiện vững chắc như nhau thì nguyên nhân của sự thành công trong việc nắm vững một cách sáng tạo toán học với tư cách là một môn học, đặc biệt nắm vững tương đối nhanh, dễ dàng, sâu sắc những kiến thức, kĩ năng, kỹ xảo trong lĩnh vực Toán học” [19]. Đối với mỗi người, việc hình thành năng lực toán học vô cùng quan trọng bởi năng lực này giúp con người có lối tư duy và cách tiếp cận tốt hơn khi đối mặt với các vấn đề trong học tập và cuộc sống.
Cụ thể rằng, khi gặp phải một vấn đề trong cuộc sống, người học cần biết cách chuyển hóa vấn đề này thành một bài toán hay một mô hình toán học; từ đây tìm hướng giải quyết vấn đề. Trong quá trình xử lý và giải quyết bài toán, người học không chỉ cần sử dụng linh hoạt các công cụ và phương tiện toán học để tìm tòi, thử nghiệm mà còn cần sử dụng thành thạo khả năng ngôn ngữ để có thể trình bày, lập luận ý tưởng hay giải pháp của bản thân; có thể tranh luận và trao đổi với người khác. Năm năng lực toán học mà Chương trình môn toán 2018 đã nhấn mạnh cần tập trung phát triển cho học sinh là năng lực tư duy và lập luận toán học, năng lực mô hình hóa toán học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp toán học và năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán. Năm năng lực trên không hình thành và hoạt động riêng lẻ mà bổ trợ và liên hệ chặt chẽ với nhau.
Trong luận văn này, tôi tập trung phân tích năng lực đầu tiên, năng lực tư duy và lập luận toán học. Dạy học theo hướng phát triển năng lực 1. Khái niệm và những yếu tố quan trọng của dạy học theo hướng phát triển năng lực Sự phát triển mạnh mẽ cùng những biến đổi nhanh chóng và không ngừng của xã hội đã đặt ra nhiệm vụ cấp bách cho giáo dục để đào tạo những 7 con người chủ động, linh hoạt, sáng tạo và năng động. Nhiệm vụ đó là chuyển đổi cách giáo dục xưa cũ sang hình thức mới nhằm trang bị cho thanh niên những kiến thức, năng lực, phẩm chất cần thiết để vững chãi trước những thách thức của thời đại mới và cống hiến vào công cuộc phát triển đất nước.
Trước hết, ta cần khẳng định chương trình giáo dục truyền thống hay còn gọi là “chương trình giáo dục định hướng nội dung dạy học” không còn phù hợp với tình hình thực tại của đất nước. Mục tiêu của chương trình giáo dục định hướng nội dung là cung cấp hệ thống tri thức khoa học của nhiều lĩnh vực thông qua việc truyền đạt đủ và đúng những nội dung môn học trong chương trình. Tuy nhiên, “chương trình giáo dục định hướng nội dung chưa chú trọng đầy đủ đến chủ thể người học cũng như đến khả năng ứng dụng tri thức đã học trong những tính huống thực tiễn.” theo tác giả Lê Đình Trung và Phan Thị Thanh Hội trong tài liệu [17]. Sự thay đổi liên tục của tri thức có thể khiến chương trình bị lạc hậu.
Thêm vào đó, người học chủ yếu được đánh giá trên khả năng ghi nhớ và tái hiện tri thức; quá trình học tập thiếu tính vận dụng thực tế. Kết quả là người học dần trở nên máy móc và thụ động. Do đó, việc xây dựng chương trình và phương pháp dạy và học mới thực sự cấp thiết và mang nhiều ý nghĩa quan trọng. “Dạy học phát triển năng lực” tập trung vào mục tiêu đầu ra của học sinh, có nghĩa chú trọng đến khả năng học sinh làm được gì, đạt được gì sau quá trình học tập để từ đó lựa chọn nội dung kiến thức, phương pháp hay cách đánh giá tối ưu; là chương trình giáo dục phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện nay.
Theo Đặng Thành Hưng (2014), ''Bản chất của dạy học tiếp cận năng lực là lấy năng lực làm cơ sở (tham chiếu) để tổ chức chương trình và thiết kế nội dung học tập. Điều này cũng có nghĩa là năng lực của học sinh sẽ là kết quả cuối cùng cần đạt được của quá trình dạy học hay giáo dục. Nói cách khác, thành phần cuối cùng và cơ bản của mục tiêu giáo dục là phẩm chất và năng 8 lực của người học. Năng lực vừa được coi là điểm xuất phát, đồng thời là sự cụ thể hóa của mục tiêu giáo dục.
Vì vậy, những yêu cầu về phát triển năng lực học sinh cần được đặt đúng chỗ của chúng trong mục tiêu giáo dục'' [8]. Vậy trong mối quan hệ giữa năng lực và dạy học phát triển năng lực, năng lực là mục tiêu cuối cùng của quá trình học tập, cũng chính là yếu tố quyết định khi thiết kế và xây dựng nội dung và hoạt động học tập. Theo tài liệu [17] “Việc dạy học định hướng năng lực về bản chất không thay thế mà chỉ mở rộng hoạt động dạy học hướng nội dung bằng cách tạo một môi trường, bối cảnh cụ thể để học sinh được thực hiện các hoạt động vận dụng kiến thức, sử dụng kĩ năng và thể hiện thái độ của mình”. Theo tài liệu [18], những yếu tố trong quá trình dạy học theo phát triển năng lực được nhấn mạnh là: - Mục tiêu dạy học: Ngoài mục tiêu giúp học sinh hình thành tri thức, kỹ năng và thái độ, dạy học định hướng phát triển năng lực tập trung giúp xây dựng và phát triển năng lực của người học, cụ thể rằng “Kết quả đầu ra của người học là những gì người học làm được sau khi kết thúc chương trình học hoặc kết thúc bài học…”.
Qua đó, hướng tới khả năng vận dụng được toàn bộ kiến thức, kĩ năng, thái độ để giải quyết được các vấn đề, tình huống trong thực tiễn. - Phương pháp giảng dạy: + “Lấy việc học của học sinh làm trung tâm” có nghĩa là học sinh đóng vai trò trung tâm, chủ động trong việc học, tiếp thu kiến thức, thực hiện nhiệm vụ, đánh giá. Công việc chính của thầy cô là thiết kế và tổ chức hoạt động giảng dạy và song song dẫn dắt, hướng dẫn người học tự thực hiện các nhiệm vụ học tập được giao một cách tích cực. + Thêm vào đó, chú trọng dạy học thông qua trải nghiệm, tạo dựng hệ thống các nhiệm vụ, hoạt động học tập gắn liền với thực tiễn.