CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH THPT 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Hiện nay, trong việc phát triển chương trình giáo dục thì phát triển phẩm chất, năng lực cho HS được xem là một trong những quan điểm chủ đạo của hầu hết các nước trên thế giới từ bậc mầm non trở lên. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới, phát triển năng lực (NL) cho HS là vấn đề được quan tâm đặc biệt. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra được các yếu tố tác động, từ đó đề ra chiến lược và mô hình phát triển NL cho HS.
Douglas Coatsworth (1998), với tài liệu [32]: ‘‘The development of competence in favorable and unfavorable environments: Lessons fromm research on successful children’’, việc phát triển năng lực nhận được sự quan tâm lớn của các bậc phụ huynh cũng như xã hội. Năng lực được đánh giá thông qua mối quan hệ đồng đẳng, hạnh kiểm, học lực, khả năng tham gia các hoạt động trong nhà trường. Ministry of Education, Science and Technology, Korea (2008), ‘‘The scholl curriculum of the republic of Korea’’, chương trình giáo dục Hàn Quốc đề cao NL sáng tạo của HS trong quá trình vận dụng kiến thức nhằm tạo ra các giá trị mới để cải thiện cộng đồng [37]. Ministry of National Education (2012), ‘‘School Education in France’’, chương trình giáo dục Pháp chỉ rõ mục tiêu của giáo dục bắt buộc là phải đảm bảo ít nhất cung cấp cho từng HS những công cụ cần thiết để làm chủ một nền tảng chung, bao gồm tổng thể các kiến thức và NL không thể thiếu để thành công trong quá trình học trong nhà trường, tiếp tục quá trình học tập, tạo dựng tương lai nghề nghiệp và đạt được thành công trong cuộc sống [38].
Department for Education (2013), với tài liệu: ‘‘The national curriculum in England’’, chương trình giáo dục của Anh hướng tới nhiệm vụ trọng tâm là phát triển đầy đủ (NL trí tuệ, NL tinh thần, NL đạo đức, NL xã hội, NL văn hóa, NL thể chất) để HS có trải nghiệm, hình 6 thành kinh nghiệm và tạo ra các cơ hội cho tương lai [36]. (2014), ‘‘Collaborative Learning in Higher Education’’, trình bày các quy trình và kết quả của các hoạt động hợp tác và dạy kèm đồng đẳng do sinh viên thực hiện trong quá trình giảng dạy ‘‘Giáo khoa tổng quát’’ được tổ chức tại Đại học Roma Tre. Từ thế kỷ XVIII, Joseph Lancaster và Andrew Bell đã thí nghiệm và triển khai rộng rãi việc học tập hợp tác nhóm ở Anh quốc. Khoảng cuối thế kỉ XIX ở Mỹ đã đề cao học tập hợp tác điển hình có Fancis, John Dewer cho rằng con người có bản chất sống hợp tác, trẻ cần được dạy biết cảm thông, tôn trọng quyền của người khác [39].
Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam. Tháng 12 năm 2018, Bộ Giáo dục và Đạo tạo ban hành chương trình giáo dục phổ thông tổng thể [6], trong đó đã xác định những phẩm chất và NL cốt lõi cần hình thành và phát triển cho học sinh (HS) bao gồm: Ba NL chung (NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp và hợp tác, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo) và các NL đặc thù (NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL tìm hiểu tự nhiên và xã hội, NL công nghệ, NL tin học, NL thẩm mĩ, NL thể chất). Với môn Hóa học, NL chung cần hình thành là NL Hợp tác. Như vậy, NL hợp tác là NL cốt lõi của HS trung học phổ thông.
Vì vậy phát triển NLHT cho HS là một việc làm cần thiết và quan trọng trong quá trình dạy học ở trường THPT. Đã có một số công trình nghiên cứu khoa học của một số tác giả về việc phát triển NLHT học cho HS trong giảng dạy hóa học. Công trình nghiên cứu [30] của tác giả Nguyễn Thị Diệu Hương (2016), phát triển năng lực hợp tác cho HS phổ thông qua dạy học phần Hóa học phi kim lớp 11 THPT, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Trường ĐHSP Huế. Tác giả Lê Bảo Như Ý (2015), Một số biện pháp phát triển năng lực hợp tác của học sinh trong dạy học phần phi kim hóa học 10 THPT, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Trường ĐHSP TP.
Tác giả Lê Thị Thùy Dương (2017), phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông, tạp chí Giáo dục, số đặc biệt tháng 8, tr.214-218, đã phân tích cấu trúc của năng lực hợp tác và biểu hiện của NL thành phần. Tác giả Nguyễn Thị hồng (2021), Dạy học một số chủ đề chương nito- photpho hóa học 11 nhằm phát triển năng lực hợp tác cho học sinh theo tiếp cận STEM, Luận văn thạc sĩ sư phạm hóa học. Tác Hoàng Nguyễn Quỳnh Anh (2022), 7 Tổ chức dạy học chủ đề ‘‘Chất khí’’ nhằm phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề của học sinh THPT, Luận văn thạc sĩ sư phạm vật lý. Tác giả Trần Thị Vân Trang (2021), dạy học phần phi kim hóa học 10 nhằm phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề cho học sinh THPT, Luận văn thạc sĩ sư phạm hóa học.
Tác giả Nguyễn Thị Hoa (2022), vận dụng mô hình trải nghiệm David Kolb trong dạy học hóa học phần kim loại nhóm IA, IIA nhằm phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề cho học sinh, Luận văn thạc sĩ sư phạm hóa học [17]. Như vậy việc nghiên cứu phát triển NLHT cho HS là rất cần thiết trong dạy học hóa học. Chúng tôi nhận thấy rằng đề tài “Dạy học phần nội dung Alcohol hóa học 11 theo định hướng phát triển năng lực hợp tác của học sinh” đã có sự kế thừa và phát triển các nghiên cứu trước đây để phù hợp với định hướng về đổi mới giáo dục phổ thông. Khái niệm năng lực Khái niệm năng lực (NL) có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy vào cách tiếp cận và bối cảnh cụ thể khác nhau.
Theo Chương trình giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể của Bộ GD và Đào tạo: ‘‘NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí., thực hiện thành công một loạt hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể’’. Theo Weinert (2001): ‘‘Năng lực là những khả năng và kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt’’. Có thể thấy dù cách phát biểu khác nhau, nhưng các tác giả đều nhấn mạnh đến tính hiệu quả trong thực hiện một hành động hoặc nhiệm vụ của cá nhân, trên cơ sở là các kiến thức, kĩ năng, thái độ của họ đối với nhiệm vụ. 8 Do đó, trong đề tài này, chúng tôi hiểu ngắn gọn: NL là khả năng thực hiện thành công, có trách nhiệm và hiệu quả các hoạt động, giải quyết các nhiệm vụ, tình huống thực tế dựa trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động.
Cấu trúc và phân loại năng lực Có nhiều phát biểu về NL khác nhau, do vậy việc mô tả cấu trúc và các thành phần NL cũng khác nhau. Trên cơ sở sự phân tích tài liệu [5], [12], [16], [20] chúng tôi xác định cấu trúc của NL hành động gồm: Năng lực chuyên môn: Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ về chuyên môn cũng như đánh giá kết quả một cách độc lập, có phương pháp và đảm bảo chính xác về mặt chuyên môn (bao gồm khả năng tư duy logic, phân tích, tổng hợp và trừu tượng; khả năng nhận biết các mối quan hệ thống nhất trong quá trình). Năng lực phương pháp: Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong công việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề đặt ra. Trung tâm của năng lực phương pháp là phương pháp nhận thức, xử lý, đánh giá, chia sẻ và giới thiệu.
Năng lực xã hội: Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau với sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác. Trọng tâm của NL xã hội là ý thức trách nhiệm của bản thân cũng như của những người khác, tự chịu trách nhiệm, tự tổ chức, có khả năng thực hiện các hành động xã hội, khả năng cộng tác và giải quyết xung đột. Năng lực cá thể: Là khả năng suy nghĩ và đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của mình; phát triển được năng khiếu cá nhân cũng như xây dựng và thực hiện kế hoạch cho cuộc sống riêng; những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các hành vi ứng xử. Các NL này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ, kết hợp tạo thành NL hành động.
Các năng lực đặc thù Theo [5], [16], [20] ngoài các phẩm chất của NL chung, môn Hóa học góp phần hình thành và phát triển ở HS năng lực tìm hiểu tự nhiên, cụ thể là NL Hóa học, bao gồm các thành phần sau: NL nhận thức kiến thức hóa học; NL tìm tòi, khám phá thế giới tự nhiên dưới góc độ hóa học; NL vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học, cụ thể: Năng lực nhận thức kiến thức hóa học: Nhận thức được các kiến thức phổ thông cốt lõi cuat môn Hóa học: Cơ sở kiến thức về cấu tạo chất; Sự chuyển hóa hóa học, các dạng năng lượng và bảo toàn năng lượng; một số chất hóa học cơ bản và chuyển hóa hóa học; một số ứng dụng của hóa học trong đời sống và sản xuất; nhận biết được một số ngành, nghề liên quan đến hóa học. Năng lực tìm tòi và khám phá thế giới tự nhiên dưới góc độ hóa học: Thực hiện được một số kỹ năng tìm tòi, khám phá một số sự vật, hiện tượng trong thế giới tự nhiên và đời sống theo tiến trình; thực hiện được việc phân tích, so sánh, rút ra những dấu hiệu chung và riêng của một số sự vật, hiện tượng đơn giản trong thế giới tự nhiên; sử dụng được các chứng cứ khoa học để kiểm tra cá dự đoán, lí giải các chứng cứ, rút ra kết luận.