Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC DỊCH VỤ 1. Những vấn đề cơ bản về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Cùng với xu hướng toàn cầu hóa, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã (đang) ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới.
Theo đó đã có nhiều quan điểm được đưa ra nhằm định nghĩa cho hành vi này: Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 1993): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp”. Đối với quyền quản lý doanh nghiệp FDI, theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 1996) có thể thực hiện bằng các cách như: thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; tham gia vào một doanh nghiệp mới; cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm). Để có quyền kiểm soát nhà đầu tư cần nắm từ 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết trở lên. [8] Như vậy, FDI có thể xảy ra theo xu hướng tác động của cả hai nhóm yếu tố: yếu tố “đẩy” của nước chủ đầu tư và yếu tố “kéo” của nước thu hút cùng với sự quan tâm từ cả hai phía chính phủ của các quốc gia này.
Các chính sách ưu đãi vốn đầu tư nước ngoài được đưa ra bởi nước sở tại để thu hút vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu chỉ dựa trên các yếu tố có lợi thế cạnh tranh cao, chẳng hạn như sự sẵn có của nguồn tài nguyên thiên nhiên hoặc hứa hẹn lợi nhuận đầu tư cao hơn từ chi phí sản xuất thấp hơn. Tuy nhiên, những chính sách khuyến khích đơn giản như vậy thường không đủ và ít có tác động tốt trong việc thúc đẩy thu hút hơn nữa vốn đầu tư nước ngoài. Nước chủ đầu tư, tốt hơn hết, mở rộng sự hiểu biết của mình với một danh sách mở rộng hơn các yếu tố thúc đẩy hoặc khuyến khích doanh nghiệp đầu tư ra Luan van 8 nước ngoài, trong khi đó nước thu hút cần tạo ra một môi trường đầu tư thông thoáng, hiệu quả. Cuối cùng tác động hỗ trợ từ cả hai phía hình thành những đặc điểm tiềm năng của dòng vốn FDI trong tương lai.
Một chính sách khuyến khích phải được xây dựng với sự cân nhắc và nghiên cứu đầy đủ nhằm thu hút tối ưu hóa số lượng và chất lượng FDI. Như vậy, mặc dù được diễn giải theo các cách khác nhau nhưng bản chất của hoạt động FDI theo các quan điểm đều có sự thống nhất rằng: Thứ nhất, bản chất của hoạt động FDI là sự thiết lập quyền sở hữu về tư bản của công ty của một quốc gia ở một quốc gia khác với mục đích tìm kiếm lợi nhuận lâu dài. Khi thực hiện hoạt động đầu tư nước ngoài, chủ đầu tư không chỉ di chuyển nguồn tài chính của mình ra khỏi biên giới quốc gia trong dài hạn, mà còn mang cả kỹ năng quản lý, công nghệ sản xuất, thương hiệu… đến nước nhận đầu tư. Trong quá trình này, chủ đầu tư sử dụng và quản lý các nguồn lực của mình một cách chặt chẽ và hiệu quả nhằm thu được giá trị thặng dư tối đa, đồng thời hỗ trợ nước chủ nhà thực hiện một số mục tiêu kinh tế xã hội nhất định.
Thứ hai, hoạt động FDI có liên quan đến sự kết hợp giữa quyền sở hữu với quyền quản lý các nguồn vốn đã đầu tư. Cụ thể, các nhà đầu tư nước ngoài phải có mức độ ảnh hưởng đáng kể tới hoạt động của các doanh nghiệp tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài thông qua việc sở hữu một lượng cổ phần nhất định, hoặc các yếu tố trong mối quan hệ trực tiếp như đại diện của công ty mẹ trong ban giám đốc của công ty con, tham gia vào quá trình biểu quyết, ra quyết định, trao đổi nhân sự, cung cấp tín dụng ưu đãi… đều coi là hoạt động FDI. Như vậy, thực chất FDI là sự mở rộng thị trường của các công ty đa quốc gia (Multinational Corporations - MNCs). Đây là những công ty thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh và/hoặc cung cấp dịch vụ trên lãnh thổ của ít nhất hai quốc gia trở lên.
Tuy nhiên, không phải công ty đa quốc gia nào cũng được coi là doanh nghiệp FDI. Tùy theo quan điểm khuyến khích và mục tiêu phát triển của từng nước, mỗi quốc gia có những tiêu chuẩn riêng khi xem xét và phân loại doanh nghiệp FDI. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài Qua xem xét các định nghĩa về đầu tư nước ngoài có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của đầu tư nước ngoài như sau: Thứ nhất, mục đích hàng đầu của FDI là tìm kiếm lợi nhuận. Trong khi các hình thức đầu tư gián tiếp thu được lợi tức tài chính ổn định, nguồn thu của các doanh nghiệp FDI hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ đầu tư vốn, do đó thu nhập mà doanh nghiệp FDI nhận được mang tính chất thu nhập kinh doanh và kém ổn định hơn.
Xét về mặt tích cực, nhà đầu tư được tự chủ hoàn toàn trong hoạt động kinh doanh của mình, toàn quyền đưa ra các quyết định tài chính và chịu trách nhiệm lãi lỗ với khoản đầu tư. Đây có thể coi là động lực thúc đẩy nhà đầu tư tập trung đưa ra những quyết định phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Đó cũng là lý do các dự án FDI thường đạt được hiệu quả kinh doanh cao hơn so với các hình thức đầu tư khác. Thứ hai, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên tham gia phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp.
Nếu nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn thì họ có toàn quyền quản lý và điều hành công ty. Trong trường hợp liên doanh, chủ đầu tư nước ngoài có quyền tham gia điều hành theo mức độ vốn góp của mình. Tuy nhiên, theo IMF (2004), vẫn có trường hợp nhà đầu tư nước ngoài có mức độ ảnh hưởng lớn hơn các nhà đầu tư trong nước có số vốn tương đương hoặc lớn hơn. Thứ ba, không để lại những gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế của quốc gia tiếp nhận.
Mặc dù FDI vẫn chịu sự chi phối của chính phủ nhưng FDI ít bị lệ thuộc vào mối quan hệ chính trị giữa hai bên do FDI là hình thức đầu tư bằng vốn tư nhân và hoạt động với mục đích cơ bản là lợi nhuận, bên nước ngoài trực tiếp tham gia vào hoạt động quản lý và vận hành. Theo đó, FDI tránh cho quốc gia tiếp nhận những ràng buộc phải đánh đổi về chính trị, quân sự, và đặc biệt không để lại hậu quả nợ nần cho nền kinh tế nước chủ nhà. Tuy nhiên, một quốc gia sẽ có thể gặp nhiều rủi ro nếu như quá phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài này. Thứ tư, FDI thường đi kèm với việc chuyển giao công nghệ cho quốc gia nhận đầu tư.
Như đã phân tích ở phần trên về bản chất của FDI, khi thực hiện hoạt Luan van 10 động đầu tư nước ngoài, bên cạnh vốn bằng tiền và các tài sản hữu hình như máy móc, thiết bị, bất động sản,v., nhà đầu tư còn mang cả quy trình công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, các phát minh sáng chế, kinh nghiệm và kỹ năng quản lý,v. đến nước chủ nhà. Đây là một trong những điểm trọng yếu mà các quốc gia tiếp nhận đầu tư hướng tới khi kêu gọi thu hút FDI, đặc biệt ở các nước đang phát triển với trình độ khoa học – kỹ thuật, năng lực quản lý còn hạn chế. Thứ năm, FDI gắn liền quyền kiểm soát và lâu dài tại quốc gia tiếp nhận.
Hoạt động FDI mang tới cho quốc gia tiếp nhận những công nghệ mới, góp phần làm tạo lập các lĩnh vực mới, ngành nghề mới. Sự phát triển của khu vực FDI trong một số ngành, lĩnh vực nhất định trực tiếp làm thay đổi cơ cấu kinh tế. Bên cạnh đó, FDI cũng có tác động lâu dài đến mức độ phát triển của quốc gia tiếp nhận. Một mặt, khi FDI làm tăng cung những hàng khan hiếm, tăng nhập khẩu phụ tùng thiết bị sản xuất và công nghệ tiên tiếp, FDI góp phần làm tăng tiềm lực xuất khẩu, khả năng cạnh trạnh, cải thiện cán cân thanh toán, tăng thu ngân sách cho nước chủ nhà, hạn chế sức ép tăng tỷ giá tiền tệ thực tế.
Mặt khác, nếu FDI kích thích nền kinh tế bong bóng, kích thích tiêu dùng cao cấp vượt quá khả năng kinh tế. thì FDI lại khiến làm cạn kiệt các nguồn lực tăng trưởng kinh tế, tăng nhập siêu, làm mất cân bằng cán cân thanh toán, tăng lạm phát,v. trong dài hạn. Các hình thức đầu tư FDI Theo Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014.
Các hình thức đầu tư vốn trực tiếp nước ngoài bao gồm : 1. Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Co-operation Contract); 2. Doanh nghiệp liên doanh; 3. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; 4.
Các hình thức đầu tư vốn FDI khác. Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Co-operation Contract) Đây là hình thức liên doanh liên kết giữa một bên là đối tác trong nước với các nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh giữa các bên trong các văn bản ký kết mà không thành lập pháp nhân mới. Hình thức này có đặc điểm là hợp tác kinh doanh của các bên được thực hiện trên cơ sở hợp đồng ký kết trong đó sẽ quy định rõ trách nhiệm và phân chia lợi Luan van 11 nhuận của các bên, nước nhận đầu tư sẽ phê chuẩn hợp đồng giữa các bên, thời hạn hợp đồng do các bên thỏa thuận. Loại hợp đồng này được áp dụng phổ biến nhất trong các lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và một số tài nguyên khác.
Doanh nghiệp liên doanh Đây là hình thức tổ chức kinh doanh quốc tế trong đó có các bên tham gia có quốc tịch khác nhau giữa một bên là nhà đầu tư của nước sở tại và bên còn lại là của đối tác nước ngoài.