Chương 1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA 1. CÔNG TY XUYÊN QUOC GIA LA GÌ? 1. Nguồn gốc Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ và làn sóng toàn cầu hoá kinh tế. các TNC - hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh quốc tế chủ yếu trên thế giới ngày nay - đã và đang thể hiện vai trò dan dắt nền kinh tế toàn cầu trong nhiều lĩnh vực sản xuất.
Trong tiến trình nhất thể hoá nền kinh tế thế giới. khi sự phụ thuộc về kinh tế giữa các quốc gia và khu vực ngày càng tang, thì vai trò của các TNC lại càng được thể hiện rõ nét hơn. Về lịch su, TNC là hình thức phát triển cao của chế độ xí nghiệp tư bản, nó thể hiện quá trình vận động và phát triển khách quan của hình thức tổ chức sản xuất TBCN và của nền kinh tế thị trường trên phạm vi quốc tế. Khi chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền thì đồng thời với nó là quá trình tích tụ và tập trung tư bản.
Trong lĩnh vực sản xuất, sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp có quy mô vừa và nhỏ đã dân tới sự phá sản của một số lượng không nhỏ xí nghiệp. số còn lại hoặc bị thôn tính. hoặc buộc phải lựa chọn giải pháp liên kết hay sáp nhập với nhau để trở thành xí nghiệp lớn hơn. Còn sự tích tụ vốn gắn liền với sự xuất hiện của các hình thức tín dụng, kéo theo nó là sự ra đời của các công ty cổ phần, đã thúc đẩy thêm quá trình tập trung tư bản.
Mác, đây là cơ sở cho việc chuyển hoá dân những xí nghiệp tư bản tư nhân thành những công ty cổ phần tư bản. là phương tiện để mở rộng quy mô hợp tác giữa các xí nghiệp. là nhân tố quan trọng đẩy nhanh tốc độ phát triển của các lực lượng sản xuất vật chất và sự hình thành một thị trường thế giới. Như vậy có thể nói, chính công ty cổ phân và sự liên kết giữa các xí nghiệp đã tạo cơ sở để tự do cạnh tranh chuyển thành độc quyền.
Tiến trình này không chỉ phản ánh sự chuyển hoá những thuộc tinh cơ bản trong quan hệ sản xuất TBCN sang mat đối lập của nó. ma còn khang định nền sản xuất TBCN chắc chắn sẽ van động sang nấc thang mới cao hơn với các hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến hơn. Độc quyền TBCN sống chung cùng cạnh tranh, dựa vào cạnh tranh và tự tách mình thành những nhân tố của cạnh tranh để tồn tại, hoàn thiện và phát triển. đó là lôgích vận động hiện thực của nền sản xuất TBCN.
Các nghiên cứu thực nghiệm cũng đã cho thấy. xí nghiệp độc quyền được hình thành là nhờ sự kết hợp giữa quá trình sản xuất quy mô lớn và quá trình phân phối quy mô quốc tế vào một công ty đơn nhất. nghĩa là trong xí nghiệp bao gồm cả các hoạt động sản xuất công nghiệp, lẫn thương mại, dich vu. để hình thành nên cái gọi là xí nghiệp công - thương hiện dai qua các moi liên kết dọc và ngang.
Xí nghiệp liên kết theo chiều dọc thường là những xí nghiệp theo ngành dọc của mình. Xí nghiệp liên kết theo chiều ngang phần lén thuộc các ngành khác nhau. Sự liên kết theo chiều đọc là con đường cơ bản hình thành nên xí nghiệp hiện đại. Sự liên kết này là một hình thức sáng tạo mới về chế độ hoạt động của xí nghiệp.
Khi phạm vi địa lý của phân công nội bộ xí nghiệp công - thương hiện đại vượt qua biên giới quốc gia, thì TNC hình thành. Như vậy, có thể nói, sự ra đời của TNC gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền sản xuất lớn TBCN, chúng là sự phát triển cao của chế độ xí nghiệp TBCN, là sự vận động mở rộng và sâu sac hơn của các quan hệ sản xuất TBCN, khi các mối quan hệ kinh tế dần dần vượt ra khỏi phạm vi quốc gia để gia nhập và thúc day guồng máy sản xuất kinh doanh quốc tế ngày càng phát triển. Sự ra đời của TNC đã đem lại cho CNTB một hình thức tổ chức sản xuất mới nhưng về thực chất, các TNC chính là sự thích ứng giữa trình độ phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất TBCN ở tầm vi mô trong điều kiện 10 tính chat xa hội hoá của sản xuất đã mở rộng trên quy mô quốc tế. Các TNC cũng đồng thời là kết quả của quá trình cạnh tranh và tập trung tư bản không ngừng trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của CNTB.
Từ thập niên 80 của thế kỷ XX trở lại đây, dưới tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ lần thứ tư [lần thứ nhất: cuối thế kỷ XVIII. chuyển từ công trường thủ công sang cơ khí hoá; lần thứ hai: cuối thế kỷ XIX đến dau thế ky XX, chuyển từ cơ khí hoá sang điện khí hoá: lần thứ ba: từ giữa thế kỷ XX đến cuối những năm 1970, chuyển sang tự động hoá] và làn sóng toàn cầu hoá kinh tế, các TNC đã nhanh chóng chiếm lĩnh hầu hết những lĩnh vực kinh tế mới, khang định thêm vai trò ngày càng quan trọng của chúng đối với nền kinh tế thế giới nói chung. cũng như với từng khu vực và quốc gia nói riêng. Đồng thời, sự cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu giữa các TNC cũng khốc liệt hơn.
Với tư cách là “con dé” của phương thức sản xuất TBCN, các TNC đã tích cực điều chỉnh lại hoạt động kinh doanh, xây dựng lại hệ thống phân công quốc tế, kết hợp liên kết dọc - ngang trong nội bộ công ty. Cơ cấu tổ chức toàn cầu của các TNC tương ứng cũng ra đời. TNC trở thành hình thức điển hình của chế độ xí nghiệp thích ứng với sự phân công và trao đổi quốc tế hiện đại. Khái niệm Kể từ sau thế chiến thứ II đến nay, sự phát triển liên tục của các TNC về quy mô, cơ cấu tổ chức, hình thức sở hữu và phương thức kinh doanh đã dẫn tới những cách hiểu khác nhau vé chúng, nhưng tựu chung nội hàm các khái niệm đưa ra đều thống nhất với nhau ở điểm: TNC rrước hết là những công ty lớn phát triển theo xu hướng độc quyền và có phạm vi hoạt động vuot ra ngoài khuôn khổ biên giới quốc gia cua mot nước và tùy theo nhận thức chung về sự phát triển của loại hình công ty này, đến nay phổ biến có ba dạng tên gọi để chỉ TNC.
Thit nhát, công ty xuyên quốc gia (Transnational Corporation) là 11 cong ty tư bản độc quyền mà tu ban nam quyền kiểm soát vốn của một nước thực hiện kinh doanh ở nhiều nước khác thông qua việc thiết lập các công ty. xí nghiệp phụ thuộc. 7u hai, công ty đa quốc gia (Multinational Corporation) là công ty tư bản độc quyền thực hiện việc thiết lập các chi nhánh ở nước ngoài để tiến hành các hoạt động kinh doanh quốc tế, nhưng khác với công ty xuyên quốc gia ở chỗ tư bản thuộc sở hữu của công ty mẹ là của từ hai nước trở lên. 7 ba, công ty quốc tế (International Corporation) là tên gọi dùng chung cho các công ty toàn cầu, công ty xuyên quốc gia, công ty đa quốc gia, cong ty siêu quốc gia.
Những người sử dụng tên gọi nay không quan tâm đến nguồn gốc. xuất sứ, hay bản chất trong quan hệ sở hữu của công ty,. mà chỉ quan tâm đến mat hoạt động sản xuất kinh doanh quốc tế của công ty. Nhu vậy, nếu dựa vào tiêu chí là nguồn gốc sở hữu thì sự phân định tên gọi thuộc về trường hợp một và hai.
Vì TNC có đặc điểm là tập đoàn lãnh đạo và quản lý công ty thuộc về các nhà tư bản của một nước. Còn nếu là công ty đa quốc gia thì hội đồng quản trị bao gồm các nhà tư bản có cổ phần thuộc nhiều nước khác nhau. Sự phân định này đến nay chủ yếu vẫn căn cứ vào công ty mẹ chứ không căn cứ vào công ty chỉ nhánh, dẫu rằng làn sóng sáp nhập và thôn tính (M & A) trong những năm 1990 đã biến nhiều TNC theo quan niệm cũ trở thành những thực thể đa sở hữu với sự góp vốn của các nhà tư bản tại nhiều nước khác nhau. Theo Báo cáo của UNCTAD.
trong 100 công ty thuộc lĩnh vực phi tài chính, thì chỉ có 6 công ty thuộc sở hữu của hai quốc gia hoặc vùng lãnh thổ, không có công ty nào thuộc sở hữu chung của 3 nước [73, 187 - 188]. Như vậy có thế thấy tính đa quốc gia là rất thấp, hơn nữa thuật ngữ xuyên quốc gia còn thể hiện tính lịch sử trong quá trình phát triển của các TNC khi mở rộng phạm vi hoạt động ra ngoài biên giới quốc gia để trở thành các công ty quốc tế. Hơn nữa trong các báo cáo về đầu tư thế giới của UNCTAD kể từ 1998 trở lại đây, cụm từ xuyên quốc gia được sử dụng rộng rãi hơn vì nó chuyển tải được đầy đủ nội dung về loại hình công ty có hệ thống hoạt động sản xuất kinh doanh xuyên biên giới, được th ành lập và kết nổi với nhau dưới sự bảo trợ của một chính phủ duy nhất đối với công ty mẹ. Tuy nhiên, có lẽ vấn dé không phải là ở thuật ngữ “xuyén qu ốc gia” hay “da quốc gia”, ma điều quan trong là nội dung của thuật ngữ đó.
Theo đó, thuật ngữ công ty xuyên quốc gia dùng để chỉ các công ty hoạt động trên phạm vi quốc tế là phù hợp, vì nó không những nêu được đặc trưng kinh tế nổi bật của TNC trong bối cảnh toàn cầu hoá đời sống kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay và phản ánh đúng tính chất hoạt động của loại hình công ty này tro ng thực tế, mà còn thể hiện được cái cốt lõi của nền sản xuất TBCN. Đó là xác định rõ quyền sở hữu và người ra quyết định - người có quyền chi phối toàn bộ giá trị tư bản được sở hữu và được tích tụ tại công ty xuyên quốc gia. Nh ư vậy, chỉ có công ty mẹ, có nguồn gốc rõ ràng, nắm quyền sở hữu phần lớn tư bản tập trung trong công ty mới có tiếng nói quyết định tr ong việc hình thành phương hướng hoạt động chiến lược của công ty, còn các cổ đông tr ong các công ty con, hay các chi nhánh ở khắp nơi trên thế giới chỉ là ng ười góp vốn kinh doanh kiếm lời, không có tiếng nói quyết định.