Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, công nghiệp hóa và hiện đại hóa được xác định là nhiệm vụ trọng tâm nhằm xây dựng nền tảng để cơ bản trở thành nước công nghiệp. Trong tiến trình này, công nghiệp giữ vai trò chủ đạo thông qua việc cung cấp tư liệu sản xuất, kích thích nông nghiệp phát triển, đáp ứng hàng tiêu dùng, giải quyết việc làm và thiết lập phương thức tổ chức sản xuất tiên tiến. Việc quy hoạch, hình thành và phát triển hệ thống các khu công nghiệp (KCN) tập trung cùng khu chế xuất được xem là giải pháp chiến lược nhằm tập trung nguồn lực, khai thác lợi thế so sánh của từng vùng, đồng thời thu hút dòng vốn đầu tư và chuyển giao khoa học kỹ thuật từ nước ngoài.

Tỉnh Bắc Ninh với vị trí địa lý thuận lợi trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đã đạt được nhiều bước tiến trong việc phát triển mạng lưới KCN, trở thành một trong những địa phương thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và phát triển công nghiệp hàng đầu cả nước. Dù vậy, hoạt động đầu tư phát triển KCN trên địa bàn tỉnh vẫn bộc lộ những hạn chế về tính đồng bộ của cơ sở hạ tầng, sự chuyển dịch cơ cấu lao động, chất lượng quy hoạch và áp lực an sinh xã hội. Đề tài "Đầu tư phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh - Thực trạng và giải pháp" được Nhóm Đề án Lớp KTĐT 51D thực hiện nhằm phân tích toàn diện thực trạng, xác định các điểm nghẽn và đưa ra hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư KCN tại địa phương.

Nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu của đề tài được xác định gồm ba nội dung chính:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và phương pháp luận về đầu tư phát triển KCN, bao gồm các tiêu chí và chỉ tiêu định lượng đánh giá kết quả, hiệu quả đầu tư.
  2. Khảo sát, phân tích thực trạng huy động vốn, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật - xã hội, quản lý nhà nước và tình hình sản xuất kinh doanh tại các KCN tiêu biểu trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh thời gian qua.
  3. Đánh giá thành tựu, chỉ rõ những tồn tại và nguyên nhân, từ đó xây dựng phương hướng và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện công tác đầu tư phát triển KCN tỉnh Bắc Ninh giai đoạn đến năm 2015 và định hướng năm 2020.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động đầu tư phát triển KCN, bao gồm đầu tư hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, thu hút vốn và phát triển sản xuất kinh doanh. Phạm vi không gian tập trung vào địa bàn tỉnh Bắc Ninh cùng các KCN trọng điểm (Tiên Sơn, Quế Võ, Yên Phong, VSIP, Đại Đồng - Hoàn Sơn, Nam Sơn - Hạp Lĩnh, Thuận Thành...). Phạm vi thời gian tập trung vào giai đoạn 2006–2011, cập nhật dữ liệu đến năm 2012 và định hướng mục tiêu đến năm 2015–2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng dựa trên các quy định pháp luật và lý luận chuyên ngành kinh tế đầu tư:

  • Khái niệm và phân loại KCN: Căn cứ Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam, KCN được định nghĩa là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ. Đề tài phân loại KCN thành 3 nhóm: KCN truyền thống, Khu chế xuất (KCX) và Khu công nghệ cao (KCNC).
  • Lý luận về đầu tư phát triển KCN: Xác định đây là quá trình tổng thể huy động và sử dụng các nguồn lực (tài chính, vật chất, lao động, trí tuệ) nhằm xây dựng hạ tầng kỹ thuật trong hàng rào (đường giao thông nội bộ, hệ thống cấp thoát nước, trạm điện, viễn thông, mặt bằng sản xuất), hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào kết nối liên vùng, hạ tầng xã hội (nhà ở công nhân, y tế, trường học, thiết chế văn hóa) và thu hút các dự án sản xuất kinh doanh thứ cấp.
  • Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả đầu tư:
    • Chỉ tiêu kết quả: Khối lượng vốn đầu tư thực hiện; tài sản cố định huy động ($F = I_{vb} + I_{vr} - C - I_{ve}$) và năng lực sản xuất tăng thêm; diện tích đất cho thuê và tỷ lệ lấp đầy; doanh thu, giá trị sản xuất công nghiệp, kim ngạch xuất nhập khẩu; trình độ công nghệ và chi phí R&D; mức độ đáp ứng hạ tầng.
    • Chỉ tiêu hiệu quả: Tỷ số $GO$ tăng thêm/Vốn đầu tư và $GDP$ tăng thêm/Vốn đầu tư; hệ số sinh vốn đầu tư $ICOR = \text{Vốn đầu tư} / \text{Mức tăng GDP}$; số lao động có việc làm trực tiếp và gián tiếp trên một đơn vị vốn đầu tư; tỷ số $GO/GDP$; đóng góp thu ngân sách nhà nước; chỉ tiêu khả năng cạnh tranh quốc tế ($IC$ dựa trên $P(FE)$ và chi phí đầu vào nội địa $DR$); phân phối giá trị gia tăng theo nhóm dân cư/vùng lãnh thổ ($NNVA$); chỉ tiêu ngoại hối ròng và mức tiết kiệm ngoại tệ ($P(FE)_{ipv}$).

Phương pháp nghiên cứu được nhóm tác giả sử dụng gồm phương pháp thu thập và xử lý số liệu thứ cấp từ các cơ quan quản lý nhà nước; phương pháp thống kê mô tả; phương pháp phân tích kinh tế và tổng hợp; phương pháp so sánh đối chiếu giữa kế hoạch và kết quả thực hiện; phương pháp phân tích định lượng dựa trên hệ thống chỉ tiêu kinh tế đầu tư chuyên ngành. Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu được trích xuất từ Ban Quản lý các KCN tỉnh Bắc Ninh, Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Ninh, Cục Thống kê và các văn bản pháp quy hiện hành liên quan đến quản lý đầu tư và doanh nghiệp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Một số lý luận chung về đầu tư phát triển KCN

Chương này tập trung làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng về khu công nghiệp và hoạt động đầu tư phát triển KCN. Tác giả phân tích các đặc điểm vận hành của KCN bao gồm: tính chất tập trung thuần túy cho sản xuất công nghiệp và dịch vụ công nghiệp không có dân cư sinh sống cố định; hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh do các doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng xây dựng và cho thuê lại; cơ chế quản lý chuyên trách thông qua Ban Quản lý KCN cấp tỉnh dưới sự phối hợp của các bộ ngành Trung ương (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng).

Về vai trò kinh tế - xã hội, KCN được xác định là mô hình tiên phong thử nghiệm các chính sách kinh tế đối ngoại, đóng góp lớn vào thu ngân sách, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ, tạo liên kết sản xuất và chuỗi cung ứng công nghiệp phụ trợ theo cơ chế lan tỏa "vết dầu loang", tiếp nhận và chuyển giao công nghệ tiên tiến từ các nước phát triển, đồng thời đào tạo tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động cho lực lượng lao động địa phương.

Ngoài ra, chương I thiết lập hệ thống các chỉ tiêu kinh tế đầu tư, phân định rõ nguồn vốn trong nước (ngân sách nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh) và nguồn vốn FDI. Chương cũng hệ thống hóa 8 nhóm nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đầu tư KCN: vị trí địa lý - dịch vụ hỗ trợ, vị trí kinh tế xã hội, kết cấu hạ tầng kỹ thuật, dung lượng thị trường tiêu thụ, quy mô dòng vốn FDI, sự ổn định chính trị, khung khổ pháp lý - chính sách ưu đãi, và chất lượng nguồn nhân lực.

Chương II: Thực trạng về đầu tư phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh thời gian qua

Chương II đi sâu khảo sát các điều kiện thực tế và kết quả triển khai đầu tư phát triển KCN tại Bắc Ninh. Về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội, Bắc Ninh có diện tích tự nhiên 822,7 km², dân số 105.800 người (số liệu năm 2010), nằm trên các trục hành lang kinh tế và giao thông huyết mạch (Quốc lộ 1A, Quốc lộ 18, Quốc lộ 38, tuyến đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn, hệ thống sông Cầu, sông Đuống, sông Thái Bình). Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt mức cao: năm 2010 đạt 17,86% (bình quân 2006–2010 đạt 15%), năm 2011 đạt 16,2%. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 đạt 36.880,6 tỷ đồng (giá cố định 1994, tăng 57,3%), năm 2011 tăng trên 70%, đạt 65.000 tỷ đồng, đưa quy mô công nghiệp Bắc Ninh xếp thứ 6 cả nước. Năm 2011, thu ngân sách đạt 7.100 tỷ đồng, GDP bình quân đầu người đạt 2.125 USD, kim ngạch xuất khẩu đạt 7.414 triệu USD và tổng mức bán lẻ dịch vụ đạt 22.000 tỷ đồng. Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI) của Bắc Ninh có sự thăng tiến vượt bậc: từ vị trí 22 (năm 2007), lên thứ 16 (2008), thứ 10 (2009), thứ 6 (2010) và vươn lên xếp thứ 2 cả nước vào năm 2012, dẫn đầu khu vực Đồng bằng sông Hồng.

Về thực trạng quy hoạch và phát triển KCN, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch tỉnh Bắc Ninh gồm 15 KCN với tổng diện tích 7.541 ha đất KCN và 984 ha đất đô thị dịch vụ. Không gian KCN được phân bố chiến lược:

  • Khu vực phía Bắc sông Đuống: Tập trung vào các ngành công nghệ cao, điện tử, cơ khí chính xác, vật liệu mới gắn liền với các tuyến Quốc lộ 1, 18 và chuỗi đô thị hiện đại.
  • Khu vực phía Nam sông Đuống: Bố trí 3 KCN đóng vai trò kích thích kinh tế nông nghiệp, chế biến nông sản, sản xuất vật liệu xây dựng, giải quyết việc làm tại chỗ và thúc đẩy hiện đại hóa nông thôn.

Lũy kế đến thời điểm nghiên cứu, toàn tỉnh có 527 dự án đầu tư KCN còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt 4,1 tỷ USD, diện tích đất công nghiệp đã cho thuê đạt 1.152 ha; suất đầu tư trung bình đạt 7,73 triệu USD/dự án và 3,56 triệu USD/ha. Đã có nhà đầu tư từ 15 quốc gia và vùng lãnh thổ hiện diện, nổi bật là các tập đoàn đa quốc gia: Samsung (Hàn Quốc), Canon (Nhật Bản), Foxconn (Đài Loan), ABB (Thụy Điển), Nokia.

Chỉ tiêu đầu tư và phát triển KCN Bắc Ninh Giá trị ghi nhận
Quy hoạch KCN được Chính phủ phê duyệt 15 KCN (7.541 ha KCN, 984 ha đô thị)
Tổng số dự án đầu tư còn hiệu lực lũy kế 527 dự án
Tổng vốn đầu tư đăng ký lũy kế 4,1 tỷ USD
Diện tích đất công nghiệp đã cho thuê 1.152 ha
Suất đầu tư bình quân 7,73 triệu USD/dự án; 3,56 triệu USD/ha
Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng KCN 14 dự án (tổng vốn 865 triệu USD)
Số KCN đang triển khai xây dựng và vận hành 9 KCN (vốn thực hiện 184,51 triệu USD)
Tổng số dự án sản xuất kinh doanh 384 dự án (263 dự án đang vận hành)
Giá trị sản xuất công nghiệp KCN (năm 2011) 142.704 tỷ đồng
Kim ngạch xuất khẩu của các KCN (năm 2011) 6.512 triệu USD
Đóng góp ngân sách tỉnh của KCN (năm 2011) 2.653 tỷ đồng
Quy mô lao động tại các KCN tập trung Gần 92.000 người (nữ chiếm 71%, địa phương ~40%)

Về công tác quản lý nhà nước, Ban Quản lý các KCN Bắc Ninh vận hành mô hình quản lý một cửa tại chỗ, triển khai hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 (được nâng cấp lên ISO 9001:2008), hoàn thành Đề án 30 giúp đơn giản hóa 40% thủ tục hành chính. Cơ quan chức năng đã rà soát và thu hồi 68 dự án không đủ năng lực triển khai; đẩy mạnh xây dựng 6 dự án nhà ở công nhân với diện tích 115.733 m² cho khoảng 16.000 người; phát triển 158 công đoàn cơ sở với 34.000 đoàn viên.

Quy trình đầu tư vào KCN Bắc Ninh được chuẩn hóa qua 6 bước: (1) Đăng ký đầu tư vào KCN; (2) Thỏa thuận thuê mặt bằng; (3) Trình hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận đầu tư; (4) Thẩm định và cấp phép đầu tư; (5) Ký hợp đồng thuê đất; (6) Xây lắp nhà xưởng và lắp đặt thiết bị máy móc.

Tuy nhiên, chương II chỉ ra các hạn chế lớn: chất lượng tăng trưởng chưa cao; chuyển dịch cơ cấu lao động chậm; hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào thiếu đồng bộ và chậm kết nối; công tác bồi thường giải phóng mặt bằng tốn kém và kéo dài; tình trạng biến động lao động lớn (chuyển việc, bỏ việc, thiếu hụt lao động qua đào tạo kỹ thuật cao, phát sinh đình công/lãn công); quy hoạch một số KCN thiếu tầm nhìn dài hạn; tỷ lệ giải ngân ở một số dự án còn chậm.

Chương III: Các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đầu tư phát triển KCN Bắc Ninh

Dựa trên phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, chương III xác định mục tiêu tiếp tục thu hút chọn lọc các dự án FDI có công nghệ cao, nâng cao tỷ trọng giá trị gia tăng nội địa, phát triển mô hình công nghiệp hỗ trợ gắn kết với các tập đoàn đa quốc gia, mở rộng thu hút đối tác chiến lược từ Châu Âu và Hoa Kỳ, đồng thời cân đối không gian phát triển giữa hai bờ sông Đuống.

Nhóm tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Hoàn thiện môi trường đầu tư và cải cách hành chính:
    • Thống nhất quan điểm chỉ đạo về vai trò của KCN trong chiến lược công nghiệp hóa địa phương.
    • Hoàn thiện thể chế, minh bạch hóa chính sách giá thuê đất và ưu đãi tài chính theo quy định.
    • Củng cố và nâng cao năng lực bộ máy Ban Quản lý các KCN, duy trì nghiêm ngặt tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và cơ chế "một cửa liên thông".
  2. Nâng cao tính đồng bộ và hiện đại của kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã hội:
    • Hoàn thiện cơ chế, chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất sạch bàn giao đúng tiến độ cho nhà đầu tư hạ tầng.
    • Tập trung huy động đa dạng các nguồn vốn (ngân sách, tư nhân, liên doanh) để xây dựng hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, ưu tiên đấu nối hạ tầng ngoài hàng rào (giao thông tỉnh lộ 295, 295B, 286, cấp điện công nghiệp, hệ thống xử lý nước thải).
    • Đẩy mạnh đầu tư hạ tầng xã hội, xây dựng cư xá công nhân, trạm y tế, trường học và khu thương mại - dịch vụ tại các vùng phụ cận KCN; tăng cường kiểm soát, quan trắc môi trường và ứng dụng công nghệ thông tin.
  3. Đẩy mạnh xúc tiến đầu tư và phát triển nguồn nhân lực:
    • Đổi mới phương thức marketing địa phương, nâng cao năng lực chuyên môn và ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư.
    • Tăng cường liên kết ba bên giữa "Nhà nước - Cơ sở đào tạo nghề - Doanh nghiệp KCN", định hướng nghề nghiệp, đào tạo kỹ năng chuyên sâu, tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động cho công nhân.
    • Mở rộng hoạt động các sàn giao dịch việc làm, bảo đảm môi trường làm việc và chế độ đãi ngộ nhằm giảm biến động lao động, hạn chế tranh chấp lao động tập thể.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu của nhóm tác giả đã mang lại những đóng góp cụ thể:

  • Tổng kết bức tranh số liệu thực chứng: Khái quát toàn bộ số liệu về quy mô phát triển KCN Bắc Ninh với 15 KCN được quy hoạch (7.541 ha), 527 dự án đăng ký (4,1 tỷ USD), giá trị sản xuất công nghiệp KCN năm 2011 đạt 142.704 tỷ đồng, xuất khẩu đạt 6.512 triệu USD và đóng góp 2.653 tỷ đồng vào ngân sách tỉnh.
  • Hệ thống hóa quy trình quản lý và chính sách: Làm rõ mô hình tổ chức của Ban Quản lý các KCN Bắc Ninh, quy trình đầu tư 6 bước, các kết quả thực hiện cải cách hành chính (tiêu chuẩn ISO 9001:2008, Đề án 30 giảm 40% thủ tục) và phản ánh vị thế cạnh tranh qua chỉ số PCI xếp thứ 2 cả nước vào năm 2012.
  • Đề xuất giải pháp có tính phân vùng: Đưa ra các định hướng giải pháp gắn liền với đặc thù không gian kinh tế của tỉnh, phân định rõ định hướng công nghiệp công nghệ cao ở phía Bắc sông Đuống và công nghiệp chế biến, phụ trợ nông nghiệp ở phía Nam sông Đuống.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài nằm ở việc nguồn dữ liệu thống kê chủ yếu mang tính mô tả tổng hợp cấp tỉnh và cấp KCN, chưa có điều kiện khảo sát thực tế chuyên sâu bằng bảng hỏi vi mô đến từng doanh nghiệp FDI hoặc từng nhóm công nhân tại các KCN. Đồng thời, các tính toán về hệ số $ICOR$, chỉ tiêu cạnh tranh quốc tế $IC$, hay ngoại hối ròng $P(FE)_{ipv}$ mới dừng lại ở việc nêu phương pháp luận và công thức toán học mà chưa lượng hóa đầy đủ thành chuỗi số liệu kinh tế lượng cụ thể cho từng KCN đơn lẻ do giới hạn nguồn tin.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng:

  • Xây dựng mô hình định lượng đánh giá mức độ lan tỏa công nghệ (spillover effects) của các tập đoàn FDI (Samsung, Canon) đến các doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ trong nước trên địa bàn tỉnh.
  • Khảo sát thực chứng đời sống, mức độ hài lòng và phúc lợi xã hội của lực lượng lao động di cư tại các khu nhà ở công nhân tập trung.

Giá trị tham khảo

Đề tài là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế Đầu tư, Kinh tế Phát triển, Quản lý Kinh tế tham khảo khung lý thuyết, hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả, hiệu quả dự án KCN và phương pháp phân tích thực trạng đầu tư cấp địa phương.
  • Cán bộ quản lý tại các cơ quan xúc tiến đầu tư, Ban Quản lý KCN các tỉnh, thành phố trong việc tham khảo kinh nghiệm cải cách thủ tục hành chính, xây dựng chính sách thu hút FDI theo chuỗi tập đoàn đa quốc gia và mô hình quản lý KCN gắn liền với khu đô thị dịch vụ.

Câu hỏi thường gặp

1. Suất đầu tư trung bình tại các KCN tỉnh Bắc Ninh được ghi nhận trong đề tài là bao nhiêu?
Theo số liệu lũy kế được trình bày trong đề tài, suất đầu tư trung bình tại các KCN tỉnh Bắc Ninh đạt 7,73 triệu USD/dự án và 3,56 triệu USD/ha đất công nghiệp.

2. Năm 2011, các doanh nghiệp hoạt động trong KCN Bắc Ninh đóng góp như thế nào vào các chỉ tiêu kinh tế?
Năm 2011, giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp trong KCN (không tính công ty đầu tư phát triển hạ tầng) đạt 142.704 tỷ đồng, giá trị xuất khẩu đạt 6.512 triệu USD và nộp ngân sách nhà nước cho tỉnh đạt 2.653 tỷ đồng.

3. Quy hoạch phát triển KCN Bắc Ninh đến năm 2015, định hướng 2020 có tổng quy mô diện tích bao nhiêu?
Quy hoạch phát triển KCN Bắc Ninh đã được Chính phủ phê duyệt gồm 15 KCN tập trung với tổng diện tích 7.541 ha đất KCN và 984 ha đất đô thị dịch vụ.

4. Quy mô và cơ cấu lao động làm việc tại các KCN Bắc Ninh có đặc điểm gì nổi bật?
Lũy kế đến thời điểm báo cáo, các KCN tập trung tại Bắc Ninh sử dụng gần 92.000 lao động. Trong đó, lao động nữ chiếm tỷ trọng áp đảo với gần 71%, lao động địa phương chiếm gần 40% và có 1.340 lao động nước ngoài làm việc.

5. Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI) của Bắc Ninh đạt thứ hạng nào tại thời điểm nghiên cứu?
Chỉ số PCI của Bắc Ninh liên tục thăng hạng từ vị trí 22 (năm 2007), thứ 16 (năm 2008), thứ 10 (năm 2009), thứ 6 (năm 2010) và vươn lên đứng thứ 2 trên 63 tỉnh, thành phố cả nước vào năm 2012, thuộc nhóm xếp hạng "Rất tốt" và dẫn đầu vùng Đồng bằng sông Hồng.

Kết luận

Đề án tốt nghiệp "Đầu tư phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh - Thực trạng và giải pháp" của Nhóm Đề án Lớp KTĐT 51D đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về đầu tư phát triển KCN và cung cấp bức tranh toàn diện về thành tựu thu hút vốn, mở rộng sản xuất công nghiệp của tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2006–2012. Bên cạnh việc chỉ ra các mặt tích cực trong cải cách hành chính và chỉ số PCI, nghiên cứu đã thẳng thắn phân tích các tồn tại về kết nối hạ tầng ngoài hàng rào, công tác giải phóng mặt bằng và biến động lao động. Các giải pháp đề xuất về hoàn thiện thể chế, nâng cấp hạ tầng đồng bộ và đào tạo nguồn nhân lực mang tính thực tiễn cao, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác quản trị và phát triển KCN tại địa phương.