Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Dấu ấn tư duy đồng dao trong thơ thiếu nhi Việt Nam từ 1945 đến nay" do nghiên cứu sinh Trần Thị Minh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lã Thị Bắc Lý, hoàn thành tại Tổ bộ môn Văn học Việt Nam, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào tháng 3 năm 2018. Luận án thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam, triển khai nghiên cứu theo hướng tiếp cận định tính kết hợp khảo sát loại hình và hệ thống hóa văn bản văn học.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc, văn học thiếu nhi giữ vai trò tạo lập nhân cách và đồng hành cùng sự phát triển tâm hồn của trẻ thơ từ thuở ấu thơ. Tuy nhiên, trước năm 1945, bộ phận văn học viết dành riêng cho trẻ em ở Việt Nam còn ở giai đoạn phôi thai, nhu cầu tinh thần của trẻ chủ yếu được đáp ứng qua kho tàng văn học dân gian, nổi bật là các bài đồng dao và câu hát ru. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, văn học thiếu nhi Việt Nam mới thực sự phát triển có tổ chức ở quy mô vĩ mô và dần ổn định về phương hướng, trong đó thơ ca là bộ phận sáng tác trung tâm.

Mặc dù có nhiều thành tựu với các tác phẩm kết tinh nghệ thuật, thực tế sáng tác thơ thiếu nhi thời gian qua vẫn còn tồn tại những bài thơ mang nặng tính giáo huấn khô cứng, thiếu tính thẩm mỹ và chưa hấp dẫn độc giả nhỏ tuổi. Trong bối cảnh bùng nổ công nghệ thông tin và văn hóa nghe nhìn lấn át văn hóa đọc, yêu cầu đổi mới thi pháp để thu hút trẻ em trở nên cấp thiết. Nhiều tác giả đã có xu hướng dịch chuyển từ tư duy "thơ răn dạy trẻ" sang "thơ chơi cùng trẻ" thông qua việc khai thác các ưu thế thẩm mỹ của thể loại đồng dao cổ truyền. Mặc dù mối liên hệ giữa thơ hiện đại và folklore đã được một số nhà nghiên cứu đề cập, việc nghiên cứu chuyên biệt và có hệ thống về dấu ấn của tư duy đồng dao đối với thơ thiếu nhi Việt Nam hiện đại vẫn là một khoảng trống học thuật cần được giải quyết một cách toàn diện.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Tìm hiểu dấu ấn tư duy đồng dao về phương diện nội dung chủ đề và hình thức nghệ thuật trong thơ thiếu nhi.
  2. Nghiên cứu thơ thiếu nhi trong mối quan hệ với tư duy đồng dao, xem đây như một nỗ lực tìm tòi, đổi mới của người sáng tác nhằm tăng sức hấp dẫn cho tác phẩm, đồng thời hình thành một trong những nét đặc trưng của bộ phận thơ này.
  3. Góp phần làm sáng tỏ hơn mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết, đặc biệt là văn học viết cho thiếu nhi.
  4. Góp phần bồi đắp tình yêu thơ ca và nâng cao thị hiếu thẩm mĩ cho bạn đọc nhỏ tuổi.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, tác giả đặt ra 4 nhiệm vụ nghiên cứu được đánh số trong văn bản:

  1. Chỉ ra những đặc trưng bản chất của thể loại đồng dao và lợi thế của thể loại này trong đời sống văn hóa trẻ thơ.
  2. Xác lập quan niệm về tư duy đồng dao cùng những đặc điểm cụ thể của kiểu tư duy này.
  3. Nhận diện và làm rõ dấu ấn tư duy đồng dao trong thơ thiếu nhi trên phương diện kiến tạo bức tranh thế giới.
  4. Nhận diện và làm rõ dấu ấn tư duy đồng dao trong thơ thiếu nhi trên phương diện kiến tạo hình thức nghệ thuật.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những biểu hiện, dấu ấn của tư duy đồng dao trong thơ thiếu nhi Việt Nam từ năm 1945 đến nay.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các biểu hiện cụ thể của tư duy đồng dao trong thơ thiếu nhi Việt Nam hiện đại ở các phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật (nguyên tắc kiến tạo bức tranh thế giới, thể thơ, kết cấu, ngôn ngữ); đồng thời giải quyết các tiền đề lý thuyết về khái niệm đồng dao, tư duy đồng dao, thơ thiếu nhi và cơ sở hình thành tư duy đồng dao trong thơ thiếu nhi.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1945 đến thời điểm hoàn thành luận án (năm 2018).
  • Phạm vi không gian và ngữ cảnh: Thơ thiếu nhi tiếng Việt xuất bản tại Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước mà luận án tổng thuật

Trong chương tổng quan, tác giả hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu đi trước thành hai nhánh lớn:

1. Các nghiên cứu liên quan đến đồng dao và tư duy đồng dao

  • Nhóm bài viết giới thiệu, ghi nhận cảm nhận cá nhân:

    • Nguyễn Văn Vĩnh với bài viết "Trẻ con hát, trẻ con chơi" trên Tứ văn dân uyển (1935) đã sớm chỉ ra cái ý vị tự nhiên, mộc mạc và huyền bí của những câu hát truyền khẩu của trẻ em.
    • Doãn Quốc Sỹ trong "Lời mở đầu" tập Ca dao nhi đồng (1969) nhìn nhận đồng dao gắn liền với trò chơi và đề xuất phương pháp ứng dụng trong lớp học để phát triển nhận thức của trẻ.
    • Nguyễn Tấn Long và Phan Canh trong Thi ca bình dân, tập IV (1969) phân tích tác dụng giải trí, sinh hoạt tập thể của đồng dao trong đời sống trẻ em nông thôn.
    • Vũ Ngọc Phan trong công trình nghiên cứu tục ngữ, ca dao, dân ca (1971) xem đồng dao là bộ phận "Hát vui chơi" mang tính chất bài học thường thức giàu nhạc điệu, vui tươi.
    • Tô Ngọc Thanh qua bài "Đồng dao với cuộc sống dân tộc Thái ở Tây Bắc" (1974) nhấn mạnh cấu trúc ba yếu tố của đồng dao: trò chơi, lời ca văn vẻ và làn điệu âm nhạc.
    • Phác Văn với bài viết "Tính triết lý trong đồng dao Việt Nam" (1983) nhận diện chiều sâu triết lý dân gian lồng trong hình thức diễn đạt hồn nhiên.
    • Nghiêm Đa Văn trong "Vị trí của đồng dao" (1995) nhấn mạnh sứ mệnh lịch sử và chất lượng ngôn từ nguyên thủy, mộc mạc của khúc hát dân gian tuổi thơ.
    • TS Nguyễn Thụy Anh với tọa đàm "Đồng dao trong thế giới trẻ thơ" tổ chức tại Trung tâm văn hóa Pháp (2011).
  • Nhóm công trình nghiên cứu chuyên sâu:

    • Vũ Ngọc Khánh với hai bài viết "Mấy điều ghi nhận về đồng dao Việt Nam" (1974) và "Thi pháp đồng dao" (1993) đã đặt nền móng lý thuyết về thi pháp đồng dao, chỉ ra các đặc trưng về tính dị bản phóng túng, câu mở đầu tạo không khí và sự gắn kết bắt buộc với các động tác diễn xướng.
    • Nguyễn Hữu Thu trong "Hát ru và hệ thống diễn xướng đồng dao" (1987) khẳng định đồng dao là bước phát triển tiếp nối của hát ru ở cấp độ kỹ thuật cao hơn, chỉ ra các dạng kết cấu "liên hoàn", "lượn vòng", "phản hồi" và các thể thơ hai chữ, bốn chữ, năm chữ.
    • Phan Đăng Nhật qua bài viết "Lời đồng dao trong trò chơi cổ truyền của trẻ em" (1992) xem đồng dao là lời nói vần - bước trung gian từ ngôn ngữ giao tiếp đến thơ ca dân gian, giữ vai trò làm hiệu lệnh, nhịp điệu và phân vai trò chơi.
    • Nguyễn Nghĩa Dân trong chuyên luận Đồng dao và ca dao cho trẻ em (2007) hệ thống hóa ba chức năng cơ bản của đồng dao: nhận thức, thẩm mỹ và giáo dục.
    • Triều Nguyên với chuyên luận Tìm hiểu về đồng dao người Việt (2009) đi sâu phân tích thể thơ, vần nhịp, phương thức tu từ, kết cấu mô hình và so sánh đối chiếu đồng dao người Việt với đồng dao Tày, Nùng.
    • Nguyễn Bích Hà (2009) phân tích sự tác động nhiều mặt của đồng dao và trò chơi dân gian đối với sự phát triển thể lực, trí lực và tâm hồn trẻ thơ.
    • Chu Thị Hà Thanh trong chuyên luận Thi pháp đồng dao và mối quan hệ với thơ thiếu nhi (2015) tiếp cận đồng dao dưới góc độ thi pháp học lịch sử, phân tích tính nguyên hợp giữa ngôn từ, trò chơi và nhạc điệu.
    • Các giáo trình đại học của Hoàng Tiến Tựu (1990), Nguyễn Bích Hà (2008), Vũ Anh Tuấn chủ biên cùng Phạm Thu Yến (2012) giới thiệu đặc điểm thể loại, tính nguyên hợp và phân loại đồng dao.

2. Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa đồng dao và thơ thiếu nhi

  • Các nhận định có tính lý luận và kinh nghiệm sáng tác: Vân Thanh (1963), Tú Mỡ (1968), Võ Quảng (1968), Định Hải (1982, 2002), Thanh Tịnh (1983), Vũ Tuấn Anh (1983), Bùi Công Hùng (1983 - phân tích sinh lý nhịp thở của trẻ em chi phối việc tiếp nhận câu thơ ngắn 2, 3, 4 chữ), Lã Thị Bắc Lý (1988), Trần Hòa Bình (1989), Chu Thị Hà Thanh (2003, 2015), Châu Minh Hùng và Lê Nhật Ký (2007 - đề xuất khái niệm "đồng dao mới"), Bùi Thanh Truyền và Trần Thị Quỳnh Nga (2010), cùng các ý kiến của Hoàng Trung Thông, Vũ Quần Phương, Vũ Đức Phúc, Phong Lê, Vân Long, Chế Lan Viên, Quang Huy.
  • Các nghiên cứu trường hợp cụ thể: Vân Thanh (1973) phân tích bài thơ Đám ma bác giun của Trần Đăng Khoa; Trần Ninh Hồ (1983) đánh giá chất đồng dao trong tập thơ Dòng suối thức của Quang Huy; Vũ Ngọc Bình (1985) bình luận bài thơ Chiếc mo cau của Định Hải trong tập Hương cốm; Trần Thị Thắng (1997) phân tích thơ Phạm Hổ (Mười quả trứng tròn, Xe chữa cháy, Chú bò tìm bạn); Trần Đăng Suyền (2003) phân tích thế giới thơ Trần Đăng Khoa; Lã Thị Bắc Lý (2011) nghiên cứu lối nhại đồng dao của Phạm Hổ (Bắp cải xanh, Củ cà rốt, Một ông trăng) và chất liệu dân gian vùng cao của Dương Thuấn; Nguyễn Văn Hòa (2012) nghiên cứu tập thơ Giấc mơ buổi sáng của Nguyễn Lãm Thắng; Chu Văn Sơn (2016) đề xuất khái niệm "mĩ học của sự ngộ nghĩnh" qua tập thơ Ra vườn nhặt nắng của Nguyễn Thế Hoàng Linh.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tác giả chỉ ra rằng đa số các công trình trước đây chỉ khai thác đồng dao dưới góc độ folklore học thuần túy, hoặc dừng lại ở những bài bình luận tản mạn, ghi nhận ấn tượng bề mặt về một vài bài thơ cụ thể có hình thức mô phỏng dân gian. Vấn đề "tư duy đồng dao" chưa được định vị như một phạm trù thi pháp học có cấu trúc nội tại hoàn chỉnh, và chưa có công trình nào khảo sát một cách có hệ thống sự chuyển hóa của tư duy đồng dao vào thơ thiếu nhi Việt Nam sau 1945 trên cả hai bình diện: kiến tạo bức tranh thế giới (nội dung thẩm mỹ) và tổ chức cấu trúc tác phẩm (hình thức nghệ thuật). Luận án xác định đây chính là khoảng trống cần được lấp đầy.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án tựa trên hai trụ cột lý thuyết cơ bản:

  1. Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết:

    • Tiếp thu các luận điểm lý thuyết của Lê Kinh Khiên (về các mức độ ảnh hưởng từ mô phỏng phong cách đến chuyển hóa nghệ thuật), Trần Đức Ngôn (xác định 4 hình thức tương tác: hình thức nhại, mô phỏng, thâm nhập chất liệu và thâm nhập phong cách), Đỗ Bình Trị, Đặng Văn Lung, Trần Hữu Thung và Nguyễn Đình Chú.
    • Khẳng định tính quy luật của sự tác động qua lại: văn học dân gian cung cấp cội nguồn thi liệu, thể loại và tư duy hình tượng cho văn học viết; ngược lại, văn học viết góp phần nâng cao tính thẩm mỹ và văn bản hóa các sáng tác dân gian. Luận án liên hệ sự tiếp thu vốn dân gian từ các tác giả trung đại (Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu) đến hiện đại (Hoàng Cầm, Bùi Giáng, Trần Dần, Đồng Đức Bốn, Nguyễn Duy, Phạm Công Trứ) và văn học thế giới (Hô-me, A. Pu-skin).
    • Từ khung lý thuyết này, luận án xem sự tiếp thu tư duy đồng dao trong thơ thiếu nhi là một biểu hiện cụ thể của quy luật kế thừa và cách tân truyền thống văn học dân tộc.
  2. Mối quan hệ giữa tư duy đồng dao và tư duy thơ:

    • Vận dụng hệ thống khái niệm của Nguyễn Bá Thành trong chuyên luận Tư duy thơ và tư duy thơ Việt Nam hiện đại về bản chất của tư duy thơ: sự biểu hiện của cái tôi trữ tình, sức tưởng tượng liên tưởng phi tuần tự, sự chi phối của dòng thơ và nhịp điệu, các yêu cầu liên kết vần và ý.
    • Kết hợp nhận định của Lã Nguyên về tư duy ngôn ngữ đồng dao (khuynh hướng làm rỗng nghĩa bề mặt để biến ngôn từ thành trò diễn dựa trên logic của thanh điệu, vần và nhịp) và quan niệm của Lê Lưu Oanh về cái nhìn "lấy cái khởi nguyên làm thước đo vạn vật".
    • Luận án xác lập quan niệm: tư duy đồng dao là một dạng thức đặc thù của tư duy nghệ thuật gắn liền với tâm lý trực cảm của trẻ thơ, vừa mang các thuộc tính chung của tư duy thơ vừa có các quy luật tổ chức riêng biệt nhằm đáp ứng nhu cầu vui chơi và tiếp nhận của tuổi nhỏ.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng 4 phương pháp nghiên cứu chính:

  1. Phương pháp hệ thống: Cung cấp cái nhìn bao quát về diện mạo thơ thiếu nhi chịu ảnh hưởng của tư duy đồng dao, sử dụng phối hợp các thao tác khoa học: khảo sát, thống kê, phân loại văn bản.
  2. Phương pháp loại hình: Xác định các đặc trưng loại hình của đồng dao dân gian và thơ thiếu nhi hiện đại, từ đó lý giải các hiện tượng thẩm thấu, lai ghép, cải dạng thể loại.
  3. Phương pháp so sánh đối chiếu: So sánh đồng dao với thơ thiếu nhi để chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt; so sánh thơ thiếu nhi qua các giai đoạn lịch sử khác nhau; so sánh thơ thiếu nhi với thơ người lớn để nhận diện khuynh hướng tiếp nhận đồng dao riêng biệt của mảng thơ này.
  4. Phương pháp liên ngành: Vận dụng tri thức của tâm lý học lứa tuổi, tâm lý học sáng tạo và lý thuyết tiếp nhận văn học; kết hợp các thao tác phân tích văn bản, miêu tả và bình giảng văn học.

Nguồn tư liệu và dữ liệu khảo sát

Ngữ liệu của luận án được thu thập từ hai nguồn chính:

  • Tư liệu đồng dao: Khảo sát chính từ cuốn Đồng dao và trò chơi trẻ em người Việt gồm 567 bài do nhóm tác giả Nguyễn Thúy Loan, Đặng Diệu Trang, Nguyễn Huy Hồng, Trần Hoàng biên soạn (Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, 1997), bên cạnh việc tham khảo các bài đồng dao nằm rải rác ở các tài liệu khác.
  • Tư liệu thơ thiếu nhi: Khảo sát qua 63 tập thơ thiếu nhi xuất bản từ năm 1945 đến nay. Trong tổng số hơn 1000 bài thơ được bao quát, tác giả ưu tiên chọn lọc 600 bài thơ chịu ảnh hưởng rõ rệt của tư duy đồng dao để làm ngữ liệu phân tích chi tiết.

Dưới đây là bảng tổng hợp các số liệu thống kê về ngữ liệu khảo sát có thật được trình bày trong luận án:

Hạng mục ngữ liệu khảo sát Quy mô / Số lượng thống kê Tỷ lệ / Ghi chú trong văn bản
Số tập thơ thiếu nhi khảo sát (từ 1945 đến nay) 63 tập thơ Hơn 1000 bài thơ bao quát
Số bài thơ thiếu nhi chọn lọc phân tích chuyên sâu 600 bài Các bài chịu ảnh hưởng rõ rệt của tư duy đồng dao
Số lượng bài đồng dao trong tài liệu khảo sát chính 567 bài Sách Đồng dao và trò chơi trẻ em người Việt (1997)
Tổng số trò chơi trẻ em khảo sát sự hiện diện của lời đồng dao 47 / 106 trò chơi Chiếm 44,1% tổng số trò chơi
Trò chơi vận động có lời đồng dao đi kèm 35 / 37 trò chơi Tác giả ghi chú xấp xỉ 61% (≈ 61%)
Trò chơi khéo léo có lời đồng dao đi kèm 4 / 33 trò chơi Chiếm xấp xỉ 14% (≈ 14%)
Trò chơi trí tuệ có lời đồng dao đi kèm 8 / 16 trò chơi Tác giả ghi chú xấp xỉ 5% (≈ 5%)
Bản thống kê tên các loài cá trong thể loại vè cá dân gian 188 tên cá Ngữ liệu khảo sát trường từ vựng đồng dao

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 dành toàn bộ dung lượng để thiết lập cơ sở lịch sử vấn đề và nền tảng lý thuyết cho luận án. Tác giả phân chia lịch sử nghiên cứu thành hai nhóm rõ rệt: các công trình tiếp cận đồng dao dưới góc độ folklore học thuần túy (từ các bài viết mang tính giới thiệu sách của Nguyễn Văn Vĩnh, Doãn Quốc Sỹ, Vũ Ngọc Phan đến các công trình chuyên sâu của Vũ Ngọc Khánh, Nguyễn Hữu Thu, Phan Đăng Nhật, Nguyễn Nghĩa Dân, Triều Nguyên, Chu Thị Hà Thanh) và các nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa đồng dao với thơ thiếu nhi (các nhận định lý luận của Tú Mỡ, Võ Quảng, Định Hải, Thanh Tịnh, Bùi Công Hùng cùng các bài viết về những tác giả cụ thể như Phạm Hổ, Trần Đăng Khoa, Quang Huy, Nguyễn Lãm Thắng, Nguyễn Thế Hoàng Linh).

Về mặt lý thuyết, chương 1 làm sáng tỏ hai mối quan hệ bản lề: mối quan hệ mang tính quy luật giữa văn học dân gian và văn học viết (tổng hợp ý kiến của Lê Kinh Khiên, Trần Đức Ngôn, Đỗ Bình Trị), và mối quan hệ tương đồng giữa tư duy đồng dao và tư duy thơ (vận dụng khung lý thuyết của Nguyễn Bá Thành). Tác giả khẳng định tư duy đồng dao vừa tuân theo các quy luật của tư duy thơ nghệ thuật, vừa mang tính đặc thù do bị quy định bởi tâm sinh lý tiếp nhận của lứa tuổi thiếu nhi.

Chương 2: Khái lược về tư duy đồng dao và thơ thiếu nhi

Chương 2 tập trung xác lập hệ thống khái niệm công cụ và làm rõ bản chất của các đối tượng nghiên cứu:

  • Khái niệm và đặc điểm cơ bản của tư duy đồng dao: Tư duy đồng dao là phương thức tư duy gắn liền với thể loại đồng dao, phản ánh cách cảm, cách nghĩ, cách nhìn thế giới của trẻ thơ với bản chất ngây thơ, hồn nhiên, ngộ nghĩnh. Chủ thể của đồng dao là trẻ em, chúng tiếp nhận thế giới bằng tư duy trực cảm chứ không bằng các khái niệm trừu tượng, chủ yếu trình bày theo phương thức liệt kê các dấu hiệu bề ngoài dễ nhận biết (Đòn gánh có mấu / Củ ấu có sừng / Bánh chưng có lá / Con cá có vây). Tư duy đồng dao gắn liền với "năng lực ngạc nhiên", xem vạn vật đều mới mẻ, lạ lẫm.
  • Tính chất trò chơi của đồng dao: Bản thân đồng dao không chỉ gắn bó với các trò chơi thực tế (thống kê 47/106 trò chơi có lời ca) mà cấu trúc ngôn từ của nó tự thân là một trò chơi gieo vần, tạo nhịp điệu. Logic của bài đồng dao là logic của ngữ âm và thanh điệu thay vì liên kết ngữ nghĩa chặt chẽ.
  • Tưởng tượng và liên tưởng đồng dao:
    • Tưởng tượng mang tính chất "nhân linh hóa", trao cho đồ vật, cây cỏ, hiện tượng tự nhiên linh hồn và hành động như con người, phù hợp với niềm tin ngây thơ của trẻ.
    • Liên tưởng mang tính chất tự do, ngẫu hứng, có tính "độc diễn" (các hình ảnh tồn tại độc lập trong chuỗi câu hát mà không phụ thuộc ngữ nghĩa vào nhau), liên tưởng nương theo âm thanh (Nghiến ngu nga / Ngà ngu nghiện), liên tưởng theo cùng trường sự vật (vè cá với 188 tên cá, vè cây trái, vè loài chim), liên tưởng ngược (đánh tráo thuộc tính sự vật nhằm thử thách trí tuệ) và liên tưởng tương đồng thông qua từ so sánh "như".
  • Khái niệm và đặc điểm của thơ thiếu nhi: Định nghĩa thơ thiếu nhi là thơ viết cho thiếu nhi, về thiếu nhi và vì thiếu nhi, xuất phát từ điểm nhìn trẻ thơ. Thơ thiếu nhi có 3 đặc điểm căn bản: phản ánh chân thực cuộc sống và hoạt động của trẻ; mang đậm chất hồn nhiên, ngây thơ; vui tươi, dí dỏm, ngộ nghĩnh và gắn liền với mô hình trò chơi.
  • Cơ sở hình thành: Phân tích đặc điểm tâm lý tuổi thơ (nhu cầu vận động, tưởng tượng phóng túng) và quy luật sáng tạo nghệ thuật (sự gặp gỡ giữa nhà thơ hiện đại và đứa trẻ bên trong thông qua hình thức đồng dao).

Chương 3: Tư duy đồng dao nhìn từ sự kiến tạo bức tranh thế giới trong thơ thiếu nhi

Chương 3 đi sâu khảo sát nội dung thẩm mỹ của thơ thiếu nhi hiện đại dưới sự chi phối của tư duy đồng dao qua 3 mô hình kiến tạo:

  • Thế giới kiến tạo từ quan niệm vạn vật bằng hữu: Thơ thiếu nhi tiếp thu quan niệm vạn vật bình đẳng từ đồng dao cổ truyền, xóa bỏ khoảng cách giữa con người và thế giới tự nhiên. Bức tranh thế giới được cấu trúc thành ba sắc thái:
    • Thế giới bè bạn thân thiện, gần gũi: đồ vật, con vật, cây cối cùng tham gia vào sinh hoạt thường nhật của trẻ nhỏ.
    • Thế giới bè bạn bình đẳng, không định kiến: không có sự phân biệt sang hèn hay tốt xấu mang tính định kiến xã hội của người lớn.
    • Thế giới bè bạn yêu thương, nâng đỡ, làm đẹp cho nhau: các sinh thể tương tác, hỗ trợ và tô điểm đời sống cho nhau một cách hòa thuận.
  • Thế giới kiến tạo từ nguyên tắc ngẫu hứng, tự do: Phá vỡ logic tư duy duy lý thông thường của người lớn để xây dựng thế giới nghệ thuật dựa trên cảm quan trực giác của tuổi thơ:
    • Yếu tố phi logic trong cái nhìn trực quan: chấp nhận những điều vô lý dưới góc nhìn thực tế nhưng lại hợp lý trong tâm lý trẻ em.
    • Những mối liên tưởng phóng túng, bất ngờ: các sự vật, hiện tượng xa cách nhau được đặt cạnh nhau một cách tự nhiên nhờ dòng cảm xúc ngẫu hứng của chủ thể sáng tạo.
  • Thế giới kiến tạo từ mô hình trò chơi: Thơ thiếu nhi hiện đại mô phỏng cấu trúc của các trò chơi truyền thống để tổ chức nội dung tác phẩm:
    • Mô hình trò chơi vận động: câu thơ giàu nhịp động, thúc đẩy các động tác cơ thể chạy, nhảy, vỗ tay.
    • Mô hình trò chơi trí tuệ: các câu đố, sự nhận biết phân biệt đặc điểm thế giới tự nhiên, lối nói ngược nhằm thử tài phán đoán.
    • Mô hình trò chơi từ ngữ: cách chơi chữ, điệp âm, gieo vần lắt léo tạo nên tiếng cười vui vẻ, sảng khoái.

Chương 4: Tư duy đồng dao nhìn từ sự kiến tạo hình thức nghệ thuật trong thơ thiếu nhi

Chương 4 phân tích các phương diện cấu trúc thi pháp và ngôn ngữ nghệ thuật của thơ thiếu nhi:

  • Thể thơ ngắn và trò chơi vần nhịp:
    • Khảo sát sự chiếm ưu thế của các thể thơ ngắn: thể hai chữ, ba chữ và bốn chữ. Luận án lý giải việc sử dụng thể thơ ngắn xuất phát từ đặc điểm sinh lý nhịp thở của trẻ em (ngắn hơn người lớn, chỉ kéo dài từ 2 đến 3 giây một nhịp ngừng nghỉ) và tâm lý ưa thích tiết tấu nhanh, dồn dập.
    • Trò chơi vần nhịp: sử dụng hệ thống vần liền, vần cách linh hoạt và nhịp thơ ngắt quãng đều đặn (nhịp 2/2 trong thể bốn chữ, nhịp 1/2 hoặc 2/1 trong thể ba chữ) tạo nên nhạc điệu vui tai, dễ thuộc, dễ nhớ.
  • Tái lặp những dạng thức kết cấu quen thuộc:
    • Kết cấu đối đáp: mô phỏng hình thức đối thoại giữa hai nhân vật hoặc giữa trẻ em với vạn vật xung quanh, làm tăng tính kịch và tính hoạt cảnh cho bài thơ.
    • Kết cấu vòng tròn: câu kết quay trở lại điểm xuất phát của câu mở đầu, tạo nên cấu trúc khép kín giúp trẻ em có thể lặp đi lặp lại bài thơ liên tục trong quá trình chơi đùa mà không bị gián đoạn.
    • Kết cấu trùng điệp cú pháp: sự lặp lại các mô hình ngữ pháp giống nhau ở các dòng thơ liên tiếp nhằm khắc sâu ấn tượng và tạo nhịp điệu diễn xướng.
  • Vay mượn mô thức ngôn ngữ đồng dao:
    • Mô thức kể: cách dẫn dắt sự việc tuần tự, liệt kê các chi tiết cụ thể, trực quan, mộc mạc như lời ăn tiếng nói hằng ngày của trẻ nhỏ.
    • Mô thức cải dạng lời đồng dao: việc sử dụng lại các câu mở đầu quen thuộc (Nu na nu nống, Dung dăng dung dẻ, Kéo cưa lừa xẻ, Chi chi chành chành) hoặc cải biên, phóng tác các bài đồng dao cổ truyền để truyền tải những nội dung đời sống hiện đại.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học

  • Luận án là công trình chuyên biệt đầu tiên nghiên cứu và giới thiệu một cách hệ thống về dấu ấn của tư duy đồng dao trong thơ thiếu nhi Việt Nam từ năm 1945 đến nay.
  • Xác lập được quan niệm khoa học về "tư duy đồng dao", chỉ ra các đặc điểm bản chất của phương thức tư duy này và làm rõ cơ chế vận hành của nó trong sáng tác thơ hiện đại.
  • Nhận diện và phân tích toàn diện các biểu hiện cụ thể của tư duy đồng dao trong thơ thiếu nhi trên cả hai bình diện: kiến tạo bức tranh thế giới (quan niệm vạn vật bằng hữu, nguyên tắc ngẫu hứng tự do, mô hình trò chơi) và kiến tạo hình thức nghệ thuật (thể thơ ngắn, kết cấu tái lặp, mô thức ngôn ngữ).
  • Góp phần củng cố lý luận về mối quan hệ bền vững giữa văn học dân gian và văn học viết; đánh giá hiệu quả thẩm mỹ của sự kết hợp giữa kế thừa di sản truyền thống và đổi mới nghệ thuật của các nhà thơ thiếu nhi hiện đại.
  • Làm rõ vị trí và những thành tựu của mảng thơ thiếu nhi trong tiến trình lịch sử văn học Việt Nam hiện đại.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Giúp người đọc, đặc biệt là thế hệ trẻ, tiếp cận và nhận thức sâu sắc hơn giá trị của văn hóa cổ truyền trong mối liên hệ với văn hóa hiện đại, bồi dưỡng ý thức trân trọng di sản dân tộc.
  • Cung cấp những gợi mở nghiệp vụ hữu ích cho giới sáng tác thơ thiếu nhi: nhấn mạnh yêu cầu tác phẩm viết cho các em không chỉ dừng lại ở nội dung lành mạnh mà cần có hình thức thể hiện sinh động, nhịp điệu vui tươi, tránh lối giáo huấn khô khan để phù hợp với tâm lý lứa tuổi.
  • Đóng vai trò là tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy môn học Văn học trẻ em, Văn học Việt Nam tại các trường đại học và cao đẳng sư phạm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên các giới hạn được tác giả trình bày trong phạm vi nghiên cứu:

  • Về ngữ liệu khảo sát: Luận án tập trung khảo sát 63 tập thơ thiếu nhi với 600 bài thơ được chọn lọc kỹ lưỡng, chưa thể bao quát toàn bộ khối lượng tác phẩm thơ thiếu nhi phong phú xuất bản từ năm 1945 đến nay. Nguồn đồng dao đối sánh chủ yếu dựa vào cuốn Đồng dao và trò chơi trẻ em người Việt (567 bài) của nhóm tác giả Nguyễn Thúy Loan, do đó chưa khảo sát hết các dị bản đồng dao vùng miền và đồng dao của các dân tộc thiểu số khác (dù có liên hệ bước đầu với đồng dao Thái, Mường, Tày, Nùng).
  • Hướng nghiên cứu tiếp tục: Có thể mở rộng diện khảo sát đối với các tập thơ thiếu nhi xuất bản trong giai đoạn sau năm 2018; đi sâu phân tích sự tiếp nhận của độc giả thiếu nhi thời kỳ kỹ thuật số đối với các hình thức thơ mang dấu ấn đồng dao; hoặc so sánh đối chiếu sâu hơn giữa dấu ấn đồng dao trong thơ thiếu nhi Việt Nam với các hiện tượng tương tự trong thơ thiếu nhi khu vực và thế giới.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị học thuật và thực tiễn thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên và giáo viên: Giảng dạy học phần Văn học thiếu nhi, Văn học dân gian Việt Nam tại các khoa Ngữ văn, khoa Giáo dục Tiểu học và Giáo dục Mầm non thuộc các trường đại học, cao đẳng sư phạm; làm căn cứ xây dựng bài giảng phân tích tác phẩm thơ thiếu nhi.
  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tham khảo về phương pháp tiếp cận liên ngành (văn học kết hợp tâm lý học lứa tuổi và thi pháp học thể loại), khung lý thuyết về mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết, cùng các thao tác phân loại và khảo sát hệ thống văn bản.
  • Nhà văn, nhà thơ sáng tác cho thiếu nhi: Nắm bắt quy luật tâm sinh lý tiếp nhận của trẻ em thông qua mô hình câu thơ ngắn, trò chơi vần nhịp và quan niệm vạn vật bằng hữu, từ đó nâng cao chất lượng nghệ thuật của tác phẩm.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "tư duy đồng dao" trong luận án được xác định dựa trên những đặc điểm bản chất nào?

Tư duy đồng dao được luận án xác định là phương thức tư duy nghệ thuật mang bản chất hồn nhiên, ngây thơ, ngộ nghĩnh của trẻ thơ, lấy "cái khởi nguyên làm thước đo vạn vật". Kiểu tư duy này mang tính trực cảm (nhận thức thế giới qua ấn tượng trực quan bề ngoài bằng phương thức liệt kê thay vì tư duy trừu tượng, suy lý), mang tính ngẫu hứng tự do (logic câu chữ nương theo vần nhịp thay vì nghĩa) và mang bản chất của một trò chơi ngôn từ.

2. Việc sử dụng các thể thơ ngắn (hai chữ, ba chữ, bốn chữ) trong thơ thiếu nhi có cơ sở sinh học và tâm lý học nào?

Luận án dẫn giải nghiên cứu của Bùi Công Hùng về sự khác biệt sinh lý nhịp thở: trẻ em có số lần thở trong một phút nhiều hơn người lớn nên cần nhiều điểm ngắt nghỉ hơn. Trẻ từ 5 đến 7 tuổi thích hợp với câu thơ 2, 3, 4 chữ vì chỉ mất từ 2 đến 3 giây là phải dừng lại để thở; câu thơ dài từ 6 đến 10 chữ của người lớn đòi hỏi khoảng 5 giây đọc, không phù hợp với thể trạng của trẻ nhỏ. Do đó, thể thơ ngắn của đồng dao đáp ứng tự nhiên đặc điểm sinh lý và tâm lý tiếp nhận của trẻ.

3. Tỷ lệ các trò chơi dân gian có lời đồng dao đi kèm được thống kê cụ thể như thế nào trong ngữ liệu của luận án?

Từ việc khảo sát phần Trò chơi trẻ em trong cuốn Đồng dao và trò chơi trẻ em người Việt, tác giả thống kê được 47 trong tổng số 106 trò chơi có lời đồng dao đi kèm, chiếm tỷ lệ 44,1%. Trong đó:

  • Nhóm trò chơi vận động có 35/37 trò chơi có lời đồng dao (văn bản ghi chú chiếm xấp xỉ 61%).
  • Nhóm trò chơi khéo léo có 4/33 trò chơi có lời đồng dao (chiếm xấp xỉ 14%).
  • Nhóm trò chơi trí tuệ có 8/16 trò chơi có lời đồng dao (văn bản ghi chú chiếm xấp xỉ 5%).

4. Luận án phân tích sự chuyển dịch trong ý thức sáng tạo thơ thiếu nhi hiện đại diễn ra theo xu hướng nào?

Luận án chỉ ra sự chuyển dịch căn bản từ quan niệm "thơ răn dạy trẻ" sang "thơ chơi cùng trẻ". Thay vì biến tác phẩm thành bục giảng đạo đức hay minh họa chính trị khô khan khiến trẻ em chán ngán, các nhà thơ hiện đại học tập cách thức của đồng dao: đưa chất chơi, chất ngộ nghĩnh và tiếng cười hồn nhiên vào thơ, kết hợp hài hòa giữa yếu tố nhận thức, thẩm mỹ và giải trí lành mạnh.

5. Cơ chế liên tưởng trong tư duy đồng dao gồm những dạng thức cụ thể nào được phân tích trong luận án?

Tác giả xác định các dạng thức liên tưởng đặc trưng:

  • Liên tưởng ngẫu hứng, có tính "độc diễn": các hình ảnh đặt cạnh nhau có tính độc lập cao, không phụ thuộc vào liên kết ngữ nghĩa logic mà nương theo nhịp vần.
  • Liên tưởng theo cùng trường sự vật: liệt kê các đối tượng trong cùng một nhóm tự nhiên (như vè các loài cá với 188 tên cá, vè cây trái, vè loài chim).
  • Liên tưởng ngược: hoán đổi thuộc tính và tính chất của các sự vật nhằm kích thích sự nhanh nhạy của trí tuệ.
  • Liên tưởng tương đồng: kết nối hai sự vật bằng các từ so sánh trực tiếp ("như").

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Minh đã giải quyết trọn vẹn và có hệ thống vấn đề dấu ấn tư duy đồng dao trong thơ thiếu nhi Việt Nam giai đoạn từ 1945 đến nay. Qua việc khảo sát ngữ liệu phong phú gồm 63 tập thơ và 567 bài đồng dao cổ truyền, công trình đã làm sáng rõ cách thức các nhà thơ hiện đại vận dụng quan niệm vạn vật bằng hữu, tính chất trò chơi cùng các thể thơ ngắn và kết cấu trùng điệp để đổi mới thi pháp thơ viết cho tuổi thơ. Công trình khẳng định sức sống bền bỉ của văn học dân gian trong dòng chảy văn học viết, đồng thời cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và sáng tác văn học thiếu nhi tại Việt Nam.