đặt vấn đề nghiên cứu nội dung - nghệ thuật đồng dao. Hoàng Tiến Tựu nhận định: “Đồng dao có thể bắt nguồn từ các hình thức thơ ca dân gian của ngƣời lớn và đƣợc ngƣời lớn tham gia sáng tác, sử dụng nhƣng chủ yếu phải phù hợp với thế giới quan, tâm sinh lí của trẻ em và do trẻ em trực tiếp lƣu truyền, diễn xƣớng. Nhạc điệu và ngôn từ trong đồng dao đều hồn nhiên, đơn giản và thƣờng gắn với những trò chơi, những hoạt động cụ thể của trẻ em thuộc các lứa tuổi khác nhau” [138, 143]. Nguyễn Bích Hà định nghĩa đồng dao là “Một hình thức hát và chơi, giáo dục trẻ nhẹ nhàng, bổ ích” [28, 234].
Phạm Thu Yến nhấn mạnh tính chất nguyên hợp của thể loại: “Đồng dao thể hiện rõ nét tính chất nguyên hợp về chức năng, về nghệ thuật của văn học dân gian. Lời ca gắn bó một cách hài hòa, chặt chẽ với âm nhạc, với trò chơi, thể hiện tính chất hồn nhiên, chất phác, phù hợp với nhu cầu vui chơi, với tâm sinh lý của trẻ nhỏ” [137, 200]. Tuy nhiên, các vấn đề này chƣa đƣợc các tác giả tập trung làm sáng rõ. Nhìn một cách khái quát, có thể thấy đa số tác giả hoặc khai thác đồng dao trên bình diện nội dung, hình thức diễn xƣớng, chức năng hoặc tìm hiểu một vài đặc điểm nghệ thuật đồng dao… Bên cạnh đó, cũng đã có những ý kiến luận bàn sâu sắc, những công trình nghiên cứu công phu với nỗ lực đi sâu khám phá sự độc đáo của thể loại đặc biệt này từ nội dung đến thi pháp.
Những kết quả nghiên cứu đó, đối với chúng tôi, có ý nghĩa nhƣ những viên gạch đặt nền móng để từ đó có thể rút ra những đặc trƣng thể loại phản ánh nét độc đáo của tƣ duy đồng dao, làm cơ sở khảo sát dấu ấn tƣ duy đồng dao trong thơ thiếu nhi. Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa tư duy đồng dao với thơ thiếu nhi Trong lĩnh vực thơ ca hiện đại, việc tìm hiểu ảnh hƣởng của văn học dân gian đã nhận đƣợc sự quan tâm và mang lại kết quả đáng trân trọng, tiêu biểu là những bài viết nhƣ “Thơ ca dân gian với tiến trình thơ hiện đại Việt Nam” (Nguyễn Văn Long), “Tƣ duy dân gian trong Về Kinh Bắc của Hoàng Cầm” (Nguyễn Thị Minh Thƣơng), “Chất dân gian trong thơ Trần Dần” (Đinh Minh Hằng), “Dấu ấn văn hóa, văn học dân gian trong thơ Vi Thùy Linh và Phan Huyền Thƣ” (Nguyễn Thị Hƣờng) [104], “Từ đồng dao đến thơ hiện đại: Trƣờng hợp Trần Dần” (Trần Ngọc Hiếu) [47]. Tuy nhiên, đối với bộ phận thơ thiếu nhi, vấn đề này dƣờng nhƣ còn là khoảng trống. Nhận thấy vai trò quan trọng của văn học dân gian nói chung, folklore thiếu nhi nói riêng, một số nhà nghiên cứu đã bày tỏ mong muốn khai thác thế mạnh của những câu hát đồng dao nhằm làm phong phú thêm đời sống sinh hoạt trẻ thơ cũng nhƣ sáng tác thơ cho thiếu nhi.
Những nhận định khái quát Mối quan hệ giữa tƣ duy đồng dao và thơ thiếu nhi nói chung đã đƣợc bàn đến gián tiếp qua một số công trình, bài viết của các tác giả: Vân Thanh, Tú Mỡ, Võ Quảng, Định Hải, Vũ Tuấn Anh, Bùi Công Hùng, Lã Thị Bắc Lý, Châu Minh Hùng - Lê Nhật Ký, Triều Nguyên, Chu Thị Hà Thanh. Trong bài “Thơ viết cho thiếu nhi buổi đầu những năm 60” (1963), tác giả Vân Thanh cho rằng, thơ viết cho thiếu nhi phải chạm đến đƣợc chiều sâu trong đời sống tâm hồn của chính các em. Để tăng sức hấp dẫn cho thơ, bên cạnh nội dung hiện thực, ngƣời sáng tác còn phải biết học tập ca dao, đồng dao: “Muốn cho thơ thâm nhập sâu vào đời sống của các em, đóng góp đƣợc một phần yêu cầu giáo dục trong sinh hoạt tinh thần của các em, nghiên cứu tƣ tƣởng, tình cảm của các em trong từng lứa tuổi. Mặt khác cũng cần phải học tập ở ca dao, đồng dao dân gian nội dung lạc quan, yêu đời và sự phong phú, đa dạng của hình thức biểu hiện” [145, 590].
Chia sẻ “Mấy kinh nghiệm riêng về việc làm thơ cho các em” (1968), Tú Mỡ khẳng định tầm quan trọng của việc đƣa thơ trở về với mạch nguồn dân tộc: “Chúng ta nên luôn luôn nhớ rằng: trẻ em ta là trẻ em Việt Nam. Thơ ta viết cho các em phải mang tâm hồn Việt Nam, trái tim Việt Nam. Không nên rập khuôn theo tác phẩm nƣớc ngoài. Trong ca dao của ta có nhiều bài ru con rất hợp với trẻ em, thí dụ nhƣ bài Con 16 mèo mà trèo cây cau, bài Cái bống là cái bống bang, Cái bống đi chợ cầu Nôm.
Đồng dao của ta cũng có lắm bài rất hay, ta có thể lấy làm mẫu mực” [145, 716]. Trăn trở với việc thể nghiệm những hình thức biểu đạt khi “Làm thơ cho các em” (1968), Võ Quảng nhấn mạnh: “Thơ cho các em có thể có nhiều hình thức, từ bốn năm câu cho đến mấy trăm câu, mỗi câu từ hai chữ cho đến năm mƣời chữ, có thể là ngũ ngôn, tứ tuyệt, lục bát, có thể là những câu dài ngắn không chừng, tất cả cái này do rung cảm của nhà thơ quy định. Nhƣng điều cần chú ý là hình thức thơ cho các em nên dựa trên những hình thức vốn có của dân tộc và nhạc của thơ phải là nhạc điệu quen thuộc của xứ sở” [145, 726]. Năm 1982, tổng kết lại chặng đƣờng “Hai mƣơi lăm năm thơ cho thiếu nhi”, nhà thơ Định Hải nhận thấy thơ cho các em hôm nay cần nhiều hơn nữa chất hồn nhiên, vui tƣơi, dí dỏm; có những tập thơ đƣợc các em yêu thích bởi ngƣời sáng tác đã đắm mình trong ánh sáng diệu kì của thể loại đồng dao ra đời từ hàng nghìn năm trƣớc: “Hơn bất cứ đối tƣợng nào, đối với các em, ngƣời viết phải chú ý làm sao cho thật hồn nhiên, tƣơi vui, nhẹ nhàng, dí dỏm (…).
Tập thơ Chim gọi mùa của Quang Huy là một tập thơ có tính chất chủ đề, đã đƣợc bạn đọc ƣa thích, chắc chắn là vì anh đã biết tìm về với đồng dao” [145, 646]. Qua tìm tòi, trải nghiệm, sau này, khi bàn về “Thơ cho thiếu nhi” (2002), Định Hải giúp bạn đọc nhận ra sự khác biệt giữa thơ cho “ngƣời lớn” và thơ cho “thiếu nhi”. Theo ông, sự khác nhau căn bản là ở chỗ thơ cho thiếu nhi “rất gần với đồng dao, dân ca, văn học dân gian, rất gần với con mắt trẻ thơ, tâm hồn trẻ thơ” [145, 700]. Tuy không có nhiều sáng tác viết cho thiếu nhi nhƣng nhà văn Thanh Tịnh cũng rất tâm huyết với những vần thơ dành cho tuổi nhỏ.
Khi nghiên cứu “Những nét dân gian trong thơ sáng tác cho thiếu nhi” (1983), ông cho rằng, thơ ca với trẻ em có mối quan hệ gần gũi và có lẽ chẳng có gì quyến rũ các em hơn khi các em đƣợc đến với âm điệu quen thuộc của những câu hò, tiếng hát, lời vè quen thuộc: “Dựa trên cơ sở đó, chúng ta làm thơ cho thiếu nhi không nên vội vàng đi quá xa những nét dân gian, cụ thể là phong dao, ca dao, đồng dao mà các em đã quen biết. Tất nhiên, từ những nét phổ cập đó mà dần dần nâng cao” [98, 59]. Thanh Tịnh khẳng định: “thơ của tuổi thiếu nhi phải trên cơ sở của màu dân tộc, sắc dân gian” [98, 59]. Trong đó, ông đặc biệt quan tâm đến thể thơ và vần điệu: “Hình thức nên theo thể thơ của dân tộc: từ 2, 3, 4, 5 chữ rồi 6 - 8.
Chứ loại thơ 7 chữ (tứ tuyệt - bát cú) hay tám chữ xem ra chƣa thích hợp lắm. 17 Điều nên tránh là làm thơ một câu nhiều chữ quá hay thơ không vần. Vần điệu là nhạc trong thơ, đối với các em lại rất cần để dễ nhớ, dễ hiểu” [98, 59]. Trong “Bài học sáng tác rút ra từ đồng dao” (1983), tác giả Vũ Tuấn Anh cũng nhận thấy vai trò gợi mở quan trọng của đồng dao khi nhà thơ muốn có chiếc chìa khóa thần kì để mở cánh cửa bí ẩn - tâm hồn trẻ thơ: “Không thể phủ nhận rằng thơ viết cho trẻ em đang ngày càng có bƣớc tiến rõ rệt.
Trong quá trình phát triển với những tìm tòi của ngƣời viết, đồng dao gợi cho chúng ta nhiều vấn đề suy nghĩ. Đồng dao giúp ta hiểu sâu nhu cầu thƣởng thức của trẻ em, cung cấp cho chúng ta chiếc chìa khóa để có thể mở rộng cánh cửa tâm hồn của những bạn đọc nhỏ tuổi” [98, 96]. Tác giả Bùi Công Hùng trong bài viết “Nhịp điệu trong thơ thiếu nhi” (1983) căn cứ vào sự khác nhau giữa nhịp thở của ngƣời lớn và trẻ em trên thực tế để đƣa ra những kiến giải có ý nghĩa sâu sắc. Theo sự phân tích của ông, câu thơ của ngƣời lớn có thể dài hơn, trung bình từ sáu đến mƣời chữ, đọc mất độ năm giây.
Nhƣng trẻ em thở nhiều lần trong một phút nên chỗ ngừng nghỉ phải nhiều hơn. Qua khảo sát, tác giả thấy rằng: “Các em tầm 5, 6, 7 tuổi thích đọc loại câu thơ 2, 3, 4 chữ vì chỉ 2 giây đến 3 giây các em đã nghỉ để thở một lần. Các em tầm 11, 12, 13 tuổi thì thích hợp với loại câu thơ 5 từ vì từ độ 3 đến 4 giây các em phải nghỉ để thở một lần” [98, 55]. Mô hình câu thơ ngắn gọn nhƣ thế cũng chính là mô hình mà ta thƣờng bắt gặp trong đồng dao, nó luôn có sức sống bền bỉ bởi: “Không phải các nhà thơ lớn tuổi hay các em không có thể, không biết sáng tạo các hình thức thơ khác cho mới lạ hơn mà chính tâm lý, sinh lý, cách tƣ duy thơ của các em đòi hỏi kiểu tổ chức bài thơ, nhịp thơ nhƣ vậy.
Đồng dao của dân tộc ta hàng ngàn năm nay cũng gọn, ngắn thƣờng chỉ có 4, 5 từ trong một câu” [98, 57]. Trong bài viết “Bƣớc đầu tìm hiểu đồng dao trong hệ thống nghiên cứu thơ cho nhi đồng” (1988), Lã Thị Bắc Lý khẳng định đồng dao nhƣ “một thể loại đặc sắc của thơ cho nhi đồng” đồng thời nhấn mạnh đồng dao “đứng vào vị trí quan trọng của thơ thiếu nhi”. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất ý kiến nên chú ý dạy đồng dao và sáng tác đồng dao mới cho các em nhiều hơn nữa. Tác giả tỏ ý hoan nghênh một số “bài đồng dao cũ đƣợc cải biên với nội dung mới có ý nghĩa” nhƣ Xỉa cá mè, Nu na nu nống.
hoặc những bài phóng tác theo đồng dao khá thành công nhƣ Bắp cải xanh của Phạm Hổ, Chim gọi mùa của Quang Huy [85].