Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1.1 Khái quát về lao động nông thôn và đào tạo nghề 1.1 Lao động nông thôn 1. Khái niệm lao động Theo Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh (2008), Giáo trình Quản lý nguồn nhân lực: “Lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người”. Theo Tổ chức lao động Thế giới thì: “Lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm”. Độ tuổi lao động quy định ở mỗi nước là khác nhau, theo bộ Luật lao động, ở nước ta “độ tuổi lao động tính từ 15 đến 60 tuổi đối với nam và 15 đến 55 tuổi đối với nữ”.
Khái niệm về lao động nông thôn “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã”[11] hay nông thôn được hiểu là những vùng dân cư mà ở đó sản xuất chủ yếu thuộc lĩnh vực nông nghiệp, nguồn thu nhập của dân cư từ sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Kinh tế nông thôn là một khu vực của nền kinh tế gắn liền với địa bàn nông thôn, nó bao gồm các ngành nông – lâm – ngư nghiệp, công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn đó. Nguồn LĐNT là“một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở nông thôn trong độ tuổi LĐ theo quy định của pháp luật có khả năng LĐ”. “Lực lượng LĐNT là bộ phận của nguồn LĐNT gồm những người trong 8 độ tuổi LĐ có khả năng LĐ, đang có việc làm và những người chưa có việc làm nhưng có nhu cầu tìm việc.” Theo tác giả Nguyễn Tiệp (2011), Giáo trình nguồn nhân lực, cho rằng: “LĐNT là một bộ phận của nguồn nhân lực quốc gia, bao gồm toàn bộ những người có khả năng LĐ (LĐ đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những người có khả năng tham gia LĐ nhưng chưa tham gia LĐ) thuộc khu vực nông thôn (khu vực địa lý bao trùm toàn bộ dân số nông thôn”.
Trong nội dung của luận văn, tác giả tiếp cận khái niệm LĐNT “là những người thuộc lực lượng LĐNT, hoạt động trong hệ thống kinh tế nông thôn và những người trong độ tuổi có khả năng LĐ nhưng hiện tại chưa tham hoạt động kinh tế nông thôn”. Đặc điểm của lao động nông thôn: Do ở nông thôn nông nghiệp là ngành sản xuất chủ yếu nên LĐNT cũng có những đặc điểm riêng của mình so với LĐ của các ngành khác, thể hiện chủ yếu ở các điểm sau: LĐNT mang tính thời vụ do trong sản xuất nông nghiệptính thời vụ luôn tồn tại. Chất lượng LĐNT được đánh giá qua trình độ học vấn, trình độ CMKT và yếu tố sức khỏe, hiện tại chất lượng LĐNT được đánh giá chưa cao. Trình độ học vấn của LĐNT được đánh giá chủ yếu thông qua bằng cấp người LĐ đạt được ở các trường phổ thông.
Do điều kiện sống và học tập ở nông thôn còn hạn chế, nhiều khó khăn nên ở nông thôn có nhiều người bỏ học giữa chừng, không hoàn thành hết chương trình học phổ thông theo quy định. Trình độ CMKT là những kiến thức về nghề nghiệp mà người LĐ đạt được theo những cấp độ khác nhau. Do ở nông thôn hoạt động sản xuất chủ yếu còn nhỏ lẻ, manh mún, trình độ khoa học kỹ thuật còn lạc hậu nên trình độ CMKT của người LĐ cũng thấp. Về sức khỏe của LĐNT được đánh giá ở mức độ vẫn còn thấp do mức thu nhập bình quân ở nông thôn chưa cao dẫn đến việc đáp ứng các nhu cầu thiết yếu hàng ngày chưa được đầy đủ.
Ngoài ra với tâm lý, tập quán 9 làm việc, e dè trong kinh doanh cũng ảnh hưởng nhiều tới chất lượng LĐNT dẫn đến người LĐ không có định hướng phát triển nghề nghiệp rõ ràng. Thêm vào đó tình trạng thiếu việc làm, không tìm được việc làm, thời gian nhàn rỗi , phần lớn chưa có nghề và chưa được ĐTN là đặc điểm nổi bật của LĐNT.2 Khái niệm đào tạo nghề và đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1. Nghề Theo Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh (2008), Giáo trình Quản lý nguồn nhân lực, cho rằng nghề “là một hình thức phân công LĐ, nó đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhất định”. Theo khái niệm này để có được nghề thì người LĐ cần phải có kiến thức lý thuyết về một số môn khoa học nhất định nào đó, sau đó trên nền tảng lý thuyết đó có các kỹ năng thực hành để tạo thành thói quen và thực hành một cách thành thạo, để từ đó hoàn thành được những công việc phù hợp với kiến thức đã được đào tạo.
Theo tác giả Nguyễn Hùng (2008), Sổ tay tư vấn hướng nghiệp và chọn nghề, thì: “ Những chuyên môn có những đặc điểm chung gần giống nhau, được xếp thành một nhóm chuyên môn và được gọi là nghề. Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại gần giống nhau. Chuyên môn là một dạng LĐ đặc biệt, mà qua đó con người dùng sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào những đối tượng cụ thể nhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng phục vụ mục đích, yêu cầu và lợi ích của con người”. Tuy có những cách hiểu khác nhau về nghề, nhưng nghề có một số đặc điểm như sau: - Nghề là một việc làm có tính chất ổn định, đem lại thu nhập và duy trì cuộc sống cho mỗi người.
- Nghề được hình thành do sự phân công LĐ của xã hội. Tùy vào năng lực, hoàn cảnh của mỗi người mà mỗi người có những nghề khác nhau. 10 - Nghề phải trải qua quá trình được đào tạo, từ đó người học có được những kiến thức, kỹ năng cần thiết để hoàn thiện được những công việc cần thiết, đáp ứng được yêu cầu của công việc và thị trường LĐ. Đào tạo nghề Trong Giáo trình Quản lý nguồn nhân lực, theo Trần Xuân Cầu (2008), cho rằng Đào tạo là “Quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng, khả năng thuộc một nghề, một chuyên môn nhất định để người LĐ thực hiện có hiệu quả chức năng và nhiệm vụ của mình”.
Ở đây đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành hay các“kiến thức liên quan đến một lĩnh vực”cụ thể nào đó để người học nắm được các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn một cách có hệ thống từ đó hoàn thành một hoạt động xã hội (nghề nghiệp) cần thiết. Có nhiều dạng đào tạo, tùy theo tiêu chí mà có thể phân thành: đào tạo chuyên môn và ĐTN, đào tạo sơ bộ và đào tạo chuyên sâu, đào tạo tập trung và đào tạo tại chức… “Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp, “Đào tạo nghề”là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp”. ĐTN là một trong các dạng đào tạo giúp nâng cao chất lượng của lực lượng LĐ. ĐTN gồm hai quá trình gắn bó chặt chẽ với nhau đó là: Dạy nghề và học nghề.
Dạy nghề là“quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp.”Học nghề là“quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người LĐ để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn Theo tác giả Nguyễn Văn Đại (2012): “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là quá trình kết hợp giữa dạy nghề và học nghề, đó là quá trình giảng 11 viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để những người LĐNT có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH nông thôn.” Đối tượng của ĐTN cho LĐNT là người LĐNT. LĐNT có những đặc điểm riêng so với LĐ nói chung, nên ĐTN cho LĐNT cũng có những đặc điểm sau: - Do số lượng LĐNT lớn nên đối tượng ĐTN cho LĐNT cũng chiếm số lượng lớn. Mặt khác LĐNT chủ yếu có trình độ học vấn và trình độ CMKT thấp nên số lượng LĐNT cần ĐTN là số lượng lớn.
- LĐNT rất đa dạng về mặt tuổi tác, trình độ, nhu cầu học nghề nên cần có các chương trình ĐTN được thiết kế thích hợp cho từng nhóm đối tượng LĐNT khác nhau. Có đối tượng LĐNT phù hợp đào tạo ở các trường dạy nghề nhưng có những đối tượng phù hợp với các lớp được tổ chức tại địa phương, tại nơi cư trú, sản xuất của người LĐNT. - Do điều kiện sống ở vùng nông thôn còn gặp nhiều khó khăn nên việc tiếp cận với tri thức mới về ĐTN cũng gặp không ít khó khăn, có rất nhiều người LĐNT không có đủ điều kiện về kinh phí, vật chất để theo học các chương trình ĐTN, đặc biệt là theo học ở các trường lớp ĐTN. - Đặc biệt đối với những LĐNT tham gia trong lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp thì tính thời vụ rất cao.
Do đó người LĐNT mong muốn có thêm việc làm, thêm thu nhập trong những thời kỳ nông nhàn, vì vậy các chương trình khuyến công, khuyến thương cần được đẩy mạnh để người LĐNT có thể tiếp cận được với ngành nghề mới, để sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực LĐNT.3 Phân loại các hình thức đào tạo nghề cho lao động nông thôn Tùy theo tiêu chí phân loại mà có thể chia thành các hình thức ĐTN cho LĐNT như sau: 12 1. Căn cứ theo thời gian đào tạo nghề Đào tạo ngắn hạn: “Là loại hình ĐTN có thời gian đào tạo dưới 1 năm tại các trung tâm dạy nghề, lớp dạy nghề độc lập hoặc gắn với cơ sở kinh doanh, dịch vụ, cơ sở giáo dục khác. Loại hình này áp dụng chủ yếu đối với phổ cập nghề, lấy thực hành là chính, vừa học vừa làm, chuyển giao công nghệ. Các khóa đào tạo ngắn hạn cung cấp ở mức căn bản các kiến thức, kỹ năng của một nghề.