Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC 8 1. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ ĐẠO ĐỨC 1. Khái niệm đạo đức và bản chất của đạo đức Khái niệm đạo đức: Là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức học đã xuất hiện rất sớm, ngay từ thời cổ đại, trong triết học Trung Quốc cổ đại, Ấn Độ cổ đại và Hy Lạp cổ đại. Ở phương Tây, danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh là mos (moris), có nghĩa là lề thói, phong tục, tập quán.
Hay theo gốc tiếng Hy Lạp, đạo đức là ethicos, tức lề thói, tập quán. Như vậy, khi nói đến đạo đức tức là nói đến những thói quen, phong tục, tập quán trong hoạt động của con người trong cộng đồng và xã hội. Ở phương Đông, quan niệm về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại được biểu hiện trong quan niệm về đạo và đức của họ. Đạo là con đường, đường đi, đường sống của con người trong xã hội.
Đức dùng để chỉ nhân đức, đức tính của con người. Đức được xem là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa là nguyên tắc, là luân lý. Theo đó, đạo đức chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo. Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin thì giá trị đạo đức được xác định ở chỗ nó phục vụ cho tiến bộ xã hội, vì hạnh phúc của con người, “giúp cho xã hội loài người tiến lên trình độ cao hơn, thoát khỏi ách bóc lột lao động” [49, 356].
Khi bàn về đạo đức cộng sản chủ nghĩa, Lênin nhấn mạnh đặc trưng cơ bản của đạo đức cộng sản, đó là tính chiến đấu, tính giai cấp, là công cụ “góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản” [49, 354]. Ngày nay, quan niệm về đạo đức khá phong phú và đa dạng. Theo Từ điển Tiếng Việt, có thể hiểu một cách tổng quát: đạo đức là những chuẩn mực, nguyên tắc được xã hội thừa nhận, qui định hành vi, quan hệ 9 con người đối với nhau và đối với xã hội. Đạo đức còn được hiểu là một hiện tượng xã hội, là sản phẩm quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với tập thể, với cộng đồng xã hội.
Theo Từ điển Wikipedia, “Đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau, với xã hội,với tự nhiên trong hiện tại hoặc quá khứ cũng như tương lai chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội” [110] Trong Gíáo trình đạo đức học Mác-Lênin, Khoa Triết học thuộc Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội. Theo quan niệm của GS.TSKH Huỳnh Khái Vinh: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm những nguyên tắc, qui tắc và chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của mình và sự tiến bộ xã hội trong quan hệ người và người” [101, 44]. Tác giả Trần Hậu Kiêm thì cho rằng: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những nguyên tắc, chuẩn mực xã hội. Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu xã hội.
Nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội. Những quan niệm trên rất khác nhau nhưng đều thống nhất nhau về những vấn đề sau: Thứ nhất, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội, phản ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội. Đạo đức phản ánh các điều kiện 10 sinh hoạt vật chất, các quan hệ kinh tế, xã hội xác định, các điều kiện hoàn cảnh địa lý. Mỗi hình thái kinh tế - xã hội khác nhau có một kiểu đạo đức tương ứng.
Khi hình thái kinh tế - xã hội thay đổi thì những chuẩn mực đạo đức cũ cũng dần dần mất đi nhường chỗ cho những chuẩn mực đạo mức mới. Đạo đức có quá trình hình thành, phát triển và có mối quan hệ với các hình thái ý thức xã hội khác như: ý thức triết học, ý thức tôn giáo, ý thức thẩm mỹ, ý thức pháp quyền,. Thứ hai, đạo đức sử dụng hệ thống các nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực đạo đức để điều chỉnh hành vi của con người. Các nguyên tắc, qui tắc đạo đức này thể hiện những yêu cầu của xã hội đặt ra đối với con người.
Những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức này luôn được bổ sung và hoàn thiện theo thời gian và tuỳ theo từng thời kỳ, từng quốc gia, dân tộc khác nhau mà có những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức khác nhau. Thứ ba, sự điều chỉnh của đạo đức mang tính tự nguyện, tự giác. Khác với các phương thức điều chỉnh hành vi con người như pháp luật, phong tục tập quán, đạo đức mang tính tự giác, tự nguyện. Con người từ sự tự nhận thức về các chuẩn mực đạo đức đến việc tự thực hiện hành vi, tự kiểm tra, tự đánh giá các hành vi đạo đức của mình cho phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội.
Thứ tư, đạo đức xét cho cùng là sự phản ánh của các quan hệ xã hội, giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng, cá nhân với xã hội nhằm đem lại lợi ích cho con người và tiến bộ xã hội. Để đạt được mục đích đó, tiêu chuẩn giá trị của đạo đức phải phù hơp với mối tương quan giữa lợi ích chung của xã hội và lợi ích của cá nhân trên cơ sở đảm bảo tiến bộ xã hội. Từ những phân tích trên, theo tôi có thể diễn đạt quan niệm về đạo đức như sau: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là hệ thống các nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội mà nhờ đó con người tự đánh giá và điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích của xã hội, của cộng đồng. 11 Bản chất của đạo đức: Đạo đức nảy sinh là do nhu cầu của đời sống xã hội, là kết quả của sự phát triển lịch sử.Ăngghen viết: “Xét cho cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ.
Đạo đức ra đời và tồn tại một cách khách quan trong đời sống con người nhằm điều chỉnh ý thức và hành vi của con người cho phù hợp với lợi ích cộng đồng và xã hội. Sự hình thành và phát triển của những chuẩn mực đạo đức thường tương ứng với sự phát triển từ thấp đến cao của các hình thái kinh tế - xã hội. Bởi cùng với sự phát triển của xã hội, đạo đức cũng không ngừng vận động và phát triển, ban đầu chỉ là những chuẩn mực đạo đức có tác dụng tối thiểu dùng để ngăn cấm mỗi thành viên không được vi phạm, đến giai đoạn phát triển cao hơn những chuẩn mực đạo đức này được bổ sung có thêm tác dụng khuyến khích con người tích cực hành động vì cái chân - thiện - mỹ. Theo đó, nội hàm của đạo đức ngày càng hoàn thiện và càng khẳng định thêm vai trò to lớn của đạo đức trong cuộc đấu tranh của nhân loại vì quyền của con người, chống chủ nghĩa vô nhân đạo.
Là sản phẩm của sự phản ánh tồn tại xã hội nên đạo đức mang bản chất xã hội chứ không phải là những gì sẵn có hoặc thiên định. Bản chất xã hội của đạo đức thể hiện ở chỗ nội dung của đạo đức là do hoạt động thực tiễn và tồn tại xã hội quyết định. Nội dung của các qui tắc, chuẩn mực đạo đức là sự phản ánh khách quan và được qui định bởi cơ sở sản sinh ra nó, cơ sở kinh tế, điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội. Sự hình thành, phát triển và hoàn thiện bản chất xã hội của đạo đức phụ thuộc vào trình độ phát triển và hoàn thiện của hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người.
Nếu không có con người và xã hội loài người thì không có đạo đức nào cả. Vì đặc trưng của đời sống con người và bản tính người là ở đạo đức và nội dung của đạo đức, đó chính là năng lực phục vụ tự nguyện, tự giác lợi ích của người khác. Do đó, đặc trưng quan trọng của đạo đức là năng lực ý thức và hành động tự nguyện, tự giác. Theo Bandzeladze: “Đạo đức con người là năng lực phục vụ một cách tự giác và tự 12 do những người khác và xã hội.Nơi nào không có hoạt động tự nguyện, tự giác của con người thì nơi ấy không thể có nhân phẩm, không thể thật sự có đời sống xã hội.
Đặc trưng của đời sống con người và của bản thân tính người hoặc nhân phẩm là ở đạo đức và nội dung của đạo đức chính là phục vụ một cách tự giác lợi ích của người khác và của toàn xã hội. Tính tự giác của đạo đức thể hiện ở sự quan tâm của con người đến người khác, đến xã hội, trong đó có sự quan tâm đến bản thân mình. Tự nguyện là sự tự ý thức về giá trị đạo đức, tự hành động, tự kiểm tra mình theo giá trị đó. Tự giác, tự nguyện là cơ sở của tự do.
Tính tự do của đạo đức thể hiện ở sự tự do lựa chọn hành vi đạo đức, sự chủ động quyết định hành vi đạo đức của chủ thể. Sự tự do lựa chọn hành vi đạo đức không phải là tự do lựa chọn một cách tùy tiện mà phải dựa trên cơ sở nhận thức tính tất yếu khách quan trong lĩnh vực đạo đức.