CHƯƠNG 1. TONG QUAN ĐẶC DIEM DIA CHAT KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Khái quát chung bồn trũng Cứu Long 1. Vị trí địa lý - kinh tế - nhân văn Bồn trũng Cửu Long thuộc chủ yếu thêm lục dia Nam Việt Nam và một phân đất liền thuộc khu vực cửa sông Cửu Long.
Bồn trũng có hình bau dục, vỗng về phía biển, kéo dài từ bờ biến Phan Thiết đến cửa sông Hậu. Về tọa độ địa lý, bồn được giới hạn từ 9° đến 119vĩ Bắc và từ 106°30’ đến 109°0’ kinh Đông. Về quy mô, bổn có diện tích khoảng 36.000 km”, trong đó chiều dài của bổn khoảng 400 km theo hướng Đông Bắc — Tây Nam và chiều rộng của bồn khoảng từ 50 — 75 km theo hướng Tây Bắc — Đông Nam (Hình 1. Về mặt ranh giới, phía Tây Bắc tiếp giáp với đất liền, phía Đông Nam ngăn cách với bồn Nam Côn Sơn bởi đới nâng Côn Son, phía Đông Bắc là đới cắt trượt Tuy Hòa ngăn cách với bồn Phú Khánh, và phía Tây Nam tiếp giáp với đới nâng Khorat — Natuna.
Theo tài liệu phân lô thì diện tích của bồn Cửu Long chủ yếu bao gém các lô 9, 15, 1ó, L7, và một phân các lô 1, 2. Trong bồn có các mỏ lớn đã và đang được đầu tư nghiên cứu và khai thác như: mỏ Bạch Hồ, mỏ Rồng, mỏ Rạng Đông, mỏ Ruby, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, CNV, Sư Tử Trăng .và một số mỏ khác đang thâm lượng chuẩn bị phát triển như: Emerald, Hải Su Trắng.Bồn tring Cửu Long có sự đầu tu của các xí nghiệp liên doanh (XNLD), các công ty điều hành chung (JOC), các công ty liên doanh phân chia sản phẩm như: XNLD VietsovPetro, Hoan Vũ JOC, Lam Son JOC, VRJ, Petronas (Malaysia), JVPC, Conoco. Về khí hậu: Nhìn chung bồn Cửu Long có khí hậu đặc trưng là nóng do vi trí của bồn gan với xích đạo. Ở khu vực này có sự phan ra thành hai mùa rõ rệt: Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 và mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10.
Nhiệt độ trung bình của khu vực này vào mùa mưa vào khoảng trên 30 °C và vào mùa khô là 26-27 °C. Trang 7 HVTH: Nguyễn Bá Thắng MSSV: 1670269 CASPUCHEA tr bể Đá-g tty 62 Xem irr i Hình 1.1: Ban đồ vị trí địa lý bổn tring Cửu Long [1] Về lượng mưa thì trung bình vào khoảng 120 — 300 cm/năm. Tuy nhiên trong các mùa mưa lũ thì lượng mưa cao hơn gấp nhiều lần. Chế độ gió: Từ tháng 11 đến 4, hướng gió chủ yếu là hướng Đông Bắc và Bắc — Đông Bắc.
Sau đó vào tháng 12 và tháng giêng thì hướng gió chủ yếu là Đông Bắc. Vận tốc gió vào đầu mùa thì nhỏ và sau đó tăng dan lên, đạt cực đại vào tháng 2. Tốc độ gió trung bình vào khoảng 1,5 m/s, cực đại có thé lên đến 12,5 m/s. Từ tháng 5 đến 10 chế độ gió chịu ảnh hưởng bởi hệ thong gió mùa Tây Nam, do đó hướng gió chủ yếu là Tây Nam và Tây — Tây Nam.
Tốc độ gió trung bình vào khoảng 8,8 m/s, cực đại có thé lên đến 32 m/s. Vẻ chế độ dòng chảy thì khu vực thuộc bồn tring có nhiều dòng chảy khác nhau do ảnh hưởng bởi các yếu tố tác động khác nhau như: Thủy triều, địa hình day, khối lượng nước, nhiệt độ, chế độ gió. Vận tốc dòng chảy trung bình, bién động nhẹ, gió giật trung bình cấp 4— 5, vận tốc dòng xoáy ở mức trung bình. Trang 6 HVTH: Nguyễn Bá Thắng MSSV: 1670269 Chế độ sóng trong khu vực bổn cũng được chia ra thành 2 kiểu phụ thuộc vào 2 mùa trong năm: Từ tháng 5 đến tháng 10, hướng sóng chủ yếu là hướng Tây Nam, biên độ thấp và 6n định, trung bình vào khoảng 0,5 — 2 m, cực đại có thé đạt được 5 m.
Từ tháng 11 đến tháng 4 hướng gió là Đông Bac va Bắc — Đông Bac, sóng có biên độ từ 2 — 4m, đôi khi lên 6-8 m. Toàn bộ vùng Nam Bộ gồm 16 tinh và thành phố có diện tích khoảng 84.600 km”, đường bờ biển dài khoảng 1000 km, diện tích thêm lục địa khoảng 800.000 km”, tong dân số theo thống kê vào năm 2002 là khoảng hon 25 triệu người, trong đó nguồn nhân lực trẻ khá dồi dào chiếm tới 13 triệu người — khoảng 35% số người lao động của cả nước. Thế mạnh kinh tế của vùng là nông nghiệp, công nghiệp nhẹ, một phần công nghiệp nặng, du lịch và xuất khẩu. Trong đó phải kế đến thế mạnh về cung cấp lương thực — thực phẩm cho cả nước, hơn nữa còn đáp ứng được nhu cầu xuất khẩu.
Về xuất khâu, ngành thế mạnh đem về nhiều ngoại tệ cho đất nước không thé không nói đến dau khí.Trong đó Bà Rịa — Vũng Tau là tỉnh có họat động về dau khí diễn ra rất sôi noi. Về mặt giao thông thì tinh Ba Ria — Vũng Tau có đường giao thông thuận lợi cho công tác tìm kiếm — thăm dò và khai thác dau khí, cụ thé: Đường bộ: Có quốc lộ 51 nối liền Tp.Vũng Tàu với Tp.Hồ Chí Minh. Hơn nữa chất lượng đường giao thông rat tốt, đạt chuẩn quốc gia. Đường thủy: Dài 80 km nối liền cảng Vũng Tàu với cảng Sài Gòn.
Cảng Vũng Tàu là một cảng lớn có thể chứa và vận chuyển được khối lượng hàng hóa thiết bị lớn, đáp ứng tốt được công tác cung cấp thực phẩm, vận chuyển thiết bi cho giàn khoan ngoài khơi. Đường hàng không: Sân bay Vũng Tàu có thé tiếp nhận các loại máy bay AN — 24, AN - 28 và các loai trực thăng. Sân bay đảm nhận công tác đưa đón cán bộ hoạt động trong lĩnh vực dau khí giữa đất liền và giàn khoan biến. Ngoài ra, sân bay cũng đảm nhận chức năng vận chuyên hàng hóa ra giàn và các dịch vụ khác theo yêu câu.
Trang 9 HVTH: Nguyễn Bá Thắng MSSV: 1670269 1. Lich sử nghiên cứu địa chất dau khí của bồn tring Cửu Long Lịch sử nghiên cứu địa chất của bồn trũng Cửu Long gắn liên với lịch sử tìm kiếm — thăm dò và khai thác dầu khí của bồn trũng. Lịch sử nghiên cứu bổn tring Cửu Long có thé được chia thành bốn giai đọan: Giai đoạn trước năm 1975 Đây là giai đoạn khảo sát địa vật lý khu vực như từ, trọng lực và địa chân chủ yếu dé phân chia lô phục vu cho công tác dau thầu, ký hợp đồng dau khí. Trong giai đoạn này thì có công ty, tổ chức tiến hành đo đạc như: US Navy Oceanographic Office (1967), Alpine Geophysical Corporation (1967 — 1968) va Ray Geophysical Mandrel (1969).
Các tổ chức trên đã lần lượt tién hành đo dia vat lý va địa chan trên toàn bộ lãnh thô Nam Việt Nam sau đó tiến hành đo ngoài khơi biển Đông trong đó có các tuyến đo cắt qua bổn trũng Cửu Long. Năm 1973 — 1974 Việt Nam tổ chức đấu thầu, và trong năm 1974 công ty Mobil đã trúng thầu trên 16 09. Cudi năm 1974 đầu năm 1975 thì công ty Mobil tiễn hành khoan giếng tìm kiếm dau tiên trong bồn trũng Cửu Long (BH - 1X). Giai đoạn 1975 — 1979 Năm 1976 có công ty địa vật lý CGG của Pháp đã tiến hành khảo sát vùng đồng bang Sông Cửu Long và ven biển Vũng Tàu — Côn Sơn.
Kết quả khảo sát đã cho phép xây dựng các tang phản xạ chính CL20 đến CL80, qua đó khang định sự có mặt của bon Cửu Long với trầm tích Đệ Tam. Năm 1978, công ty Geco của Nauy tiễn hành thu nỗ địa chan 2D trên các lô của bổn trũng Cửu Long và làm chi tiết trên cầu tạo Bạch Hồ. Ngoài ra, công ty Deminex đã hợp đồng với Geco thu nỗ địa chan trên lô 15 và cau tạo Cửu Long (nay là cầu tao Rạng Đông). Theo như kết quả khoan tìm kiếm của Deminex trên các cấu tạo triển vọng nhất thì chi phát hiện biểu hiện dau khí chứ không có dòng dau công nghiệp.
Giai đoạn 1980 — 1988 Trong giai đoạn này thì công tác tìm kiếm thăm dò mở rộng. trong đó phải kế đến sự có mặt của XNLD Vietsovpetro. Năm 1980, tàu POISK tién hanh do dia chan và kết quả là đã phân chia chi tiết các tập dia chan của bổn tring Cửu Long. Sau đó Trang 70 HVTH: Nguyễn Bá Thắng MSSV: 1670269 trong các năm từ 1981 đến 1984 thì các tàu nghiên cứu khác đã tiến hành khảo sát dia vật lý — địa chan rộng hơn và nghiên cứu phan sâu hon của bồn Cửu Long.
Trong thời gian nay, Vietsovpetro cũng tiễn hành khoan 4 giếng trên cau tao Bạch Hồ và Rong. Cuối giai đoạn đánh dấu băng việc Vietsovpetro đã khai thác những tan dầu đầu tiên từ hai đối tượng Miocen và Oligocen hạ năm 1986 và đặc biệt quan trọng là vào 1988 họ đã phát hiện dầu trong đá móng nứt nẻ granite. Giai đoạn 1989 đến nay Đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của công nghiệp dầu khí, đặc biệt là ở bồn trũng Cửu Long với sự ra đời của luật đầu tư nước ngoài và luật dầu khí. Qua đó đã có hàng loạt các công ty nước ngoai dau tư vào Việt Nam theo hình thức phân chia sản phẩm hay cùng hợp tác đầu tư.
Đến nay đã có nhiều hợp đồng tìm kiếm thăm dò được ký kết. Tham gia vào giai đoạn sôi nổi này là các công ty dịch vụ địa vật lý giàu kinh nghiệm trên thế giới như: CGG, Geco — Prakla, Western GeoCo, PGS. Hau hết các lô thuộc phạm vi bổn đã được nghiên cứu tỉ mỉ phục vụ cho công tác mô hình hóa thân dau. Song song đó là việc khảo sát dia chan 3D trên tat cả các vùng triển vọng.
Đến nay, số lượng giếng khoan ở bổn trũng Cửu Long lên đến con số 400, trong đó Vietsovpetro chiếm trên 70% số giếng. Băng kết quả khoan thì đã phát hiện được các mỏ như: Rạng Đông, Sư Tử Đen, Sư Tử Trăng, Sư Tử Vàng, Diamond, Emerald, CNV. đang khai thác với sản lượng khá cao. D cdi m địa tang Các thành tạo của bổn trũng Cửu Long bao gồm móng trước Kainozoi và tram tích lớp phủ kèm phun trào tuổi Kainozoi.Cột địa tang tổng hợp bổn trũng Cửu Long thể hiện trên hình 1.
Trang 7ï HVTH: Nguyễn Bá Thắng MSSV: 1670269 t oD z = -_ o> S on = le) = - “ = = S£ =.