MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Cây ăn quả ngày càng có vị trí quan trọng trong đời sống của con người cũng như trong nền kinh tế quốc dân. Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa ẩm tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái, rất thuận lợi cho việc phát triển nghề trồng cây ăn quả. Trong những năm qua nghề trồng cây ăn quả có vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng vào nền kinh tế nông nghiệp, góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn người lao động. Một trong số loại cây ăn quả đó là Cam Sành.
Lịch sử trồng cam của nước ta đã có từ lâu đời, cây Cam Sành cho năng suất và sản lượng tương đối ổn định và có giá trị kinh tế cao, tạo việc làm cũng như thu nhập hàng năm cho người lao động, đặc biệt là các tỉnh trung du và miền núi. Với ưu thế là loại cây ăn quả dài ngày và dễ khai thác. Cây Cam Sành đang là một trong những loại cây ăn quả được người tiêu dùng trong nước và trên thế giới rất ưa chuộng bởi nó có hương vị thơm ngon, có giá trị dinh dưỡng cao, bảo quản được lâu trong quá trình sử dụng và có giá trị xuất khẩu cao. Nhưng bên cạnh đó cây Cam Sành đang dần bị mất đi diện tích trồng trọt của nó bởi một số các yếu tố, điều kiện không phù hợp như đất đai, dinh dưỡng, sâu bệnh hại… Đây cũng là những thách thức cho các nhà quản lí, nhà khoa học cần có những biện pháp nghiên cứu, phối hợp nhằm khôi phục những diện tích đã bị thoái hóa và mở rộng diện tích trồng cam trên các địa bàn đã nổi tiếng với cây Cam Sành.
Yên Thuận là xã vùng cao nằm ở phía Bắc của huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang, có điều kiện về đất đai, khí hậu phù hợp cho sự phát triển của cây Cam Sành. Thương hiệu Cam sành Hàm Yên được đăng ký nhãn hiệu từ n 2 năm 2007. Từ đó đến nay, cam sành Hàm Yên đã đạt nhiều giải thưởng về nhãn hiệu thương mại. Năm 2013, cam sành Hàm Yên đã lọt vào Top 10 thương hiệu, nhãn hiệu nổi tiếng bậc nhất Việt Nam.
Năm 2015, đạt danh hiệu “Thương hiệu vàng nông nghiệp Việt Nam”. Tuy có nhiều tiềm năng, thế mạnh phát triển cây cam, song thực tế những năm qua việc phát triển cây cam sành vẫn chưa theo quy hoạch, diện tích cam phát triển ồ ạt, không tính đến khả năng thích hợp với điều kiện sinh thái của từng tiểu vùng trong tỉnh. Quy trình sản xuất, thu hái chưa theo tiêu chuẩn, khâu vận chuyển, bảo quản chưa được đầu tư hợp lý dẫn đến cam thường bị dập nát, gây khó khăn cho việc tiêu thụ. Với đa số hộ nông dân việc sản xuất cây ăn quả ở Yên Thuận tuy đã thành vùng tập trung nhưng vẫn tự phát là chính, vẫn trồng quảng canh theo tập quán canh tác cũ, trông chờ vào sự may rủi của thời tiết.
Trong nền sản xuất hàng hoá hiện nay, cam sành ở Yên Thuận đã biểu hiện những nhược điểm như: bị bệnh nhiều, số hạt quả nhiều, tỷ lệ bã cao, mã quả không đẹp, nên khó có được chỗ đứng trên thị trường trong nước và thế giới. Sản xuất tập trung gây căng thẳng về thời vụ thu hoạch và gây ứ đọng, hư hỏng sản phẩm. Việc tiêu thụ sản phẩm còn mang tính tự phát, thiếu thông tin về yêu cầu của thị trường nên dễ bị ép giá gây thua thiệt cho người sản xuất. Chính vì những lý do trên tôi quyết định chọn đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển bền vững chương trình sản xuất Cam Sành tại xã Yên Thuận huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang” 1.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1. Mục tiêu chung Đề tài nghiên cứu đánh giá thực trạng sản xuất Cam Sành tại xã Yên Thuận huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang làm cơ sở đề xuất các giải pháp phát triển bền vững chương trình sản xuất Cam Sành tại xã. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá được thực trạng chung, những thuận lợi, khó khăn của xã trong sản xuất Cam Sành - Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất Cam Sành của xã - Đề xuất các giải pháp phát triển bền vưỡng chương trình sản xuất Cam Sành của xã n 4 PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Phát triển bền vững Phát triển kinh tế là phương thức duy nhất là điều kiện cơ bản để đạt tới cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn của tất các dân tôc trên khắp thế giới.
Nhưng trong quá trình phát triển hướng tới cuộc sống tốt đẹp hơn cho mình thì con người lại tao lên sự mâu thuẫn giữa các nhu cầu của chính mình. Chẳng hạn con người vừa cần có củi để đun nấu và sưởi ấm lại vừa rất cần có rừng để bảo vệ đất khỏi xói mòn, bảo vệ nguồn nước ngầm và phòng chống nước mặn xâm nhập vào đồng ruộng…[1] Từ những mâu thuẫn đó vào cuối những năm 70 của thế kỷ XX, nhân loại phải đối mặt với nhiều thách thức to lớn về các vấn đề kinh tế xã hội và môi trường mang tính toàn cầu, đó là: Sự cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự gia tăng dân số quá nhanh và hàng loạt các vấn đề xã hội khác nảy sinh, nạn ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu trái đất là suy giảm, thủng tầng ôzôn dẫn tới hiện tượng Elnino, Lanina xảy ra thường xuyên và ngày càng dữ dội hơn. Những thách thức nêu trên gây nên trở ngại cho sự phát triển kinh tế và đe dọa sự tồn tại không phải chỉ của từng quốc gia riêng lẻ mà của cả cộng đồng quốc tế. Năm 1980, Hiệp hội quốc tế về bảo vệ thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên đã được đưa ra “Chiến lược bảo vệ toàn thế giới” với mục tiêu tổng thể là đạt được sự phát triển bền vững, cách bảo vệ các nguồn tài nguyên sống”.
Năm 1987, trong báo cáo “tương lai của chúng ta” của hội đồng thế giới về môi trường và phát triển của liên hợp quốc đã đưa ra khái niệm: “phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được những nhu cầu của hiện tại, n 5 nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”. Năm 2002, Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển được tổ chức ở Cộng hòa Nam Phi đã xác định: Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 03 mặt của sự phát triển, đó là: Phát triển kinh tế; Phát triển xã hội; Bảo vệ môi trừơng. Phát triển nền nông nghiệp theo xu hướng bền vững Xu hướng phát triển nông nghiệp bền vững xuất hiện và được nhiều nước áp dụng và mang lại những hiệu quả nhất định trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển nông nghiệp nói riêng. Theo định nghĩa của TAC/CGIARC (Ban cố vấn kỹ thuật nhóm chuyên gia quốc tế về nghiêp cứu nông nghiệp của Liên Hợp Quốc).
Nông nghiệp bền vững phải bao hàm sự quản lí thành công tài nguyên thiên nhiên, nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người, đồng thời cải tiến chất lượng môi trường và gìn giữ được tài nguyên thiên nhiên. Năm 1991, nhóm hoạt động về vấn đề lương thực thuộc Ủy ban Hợp tác của các tổ chức Phi chính phủ (NGDOS) ở Cộng đồng Châu Âu thống nhất đưa ra định nghĩa như sau: Nông nghiệp bền vững thiết lập nhằm đáp ứng nhu cầu của con người cũng như các mặt hạn chế của tự nhiên và điều kiện sinh thái ở một vùng nhất định. Theo tổ chức môi trường thế giới (WOED) đã định nghĩa nông nghiệp bền vững như sau: Nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp thỏa mãn được các nhu cầu của thế hệ hiện nay mà không làm giảm khả năng ấy đối với các thế hệ mai sau. Ở Việt Nam nghiên cứu về phát triển bền vững bắt đầu được nghiên cứu từ khoảng cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ XX.
Từ việc kế thừa những thành tựu nghiên cứu trước đó và căn cứ vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam có thể kết luận rằng: Phát triển nông nghiệp bền vững (bao gồm n 6 cả lâm nghiệp và ngư nghiệp) là quá trình sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, giải quyết tốt các vấn đề xã hội gắn với bảo vệ môi trường sinh thái trên cơ sở đảm bảo thoả mãn các nhu cầu của con người trong hiện tại và tương lai và được xã hội chấp nhận. Đặc trưng của nền nông nghiệp theo xu hướng bền vững Đặc trưng của nền nông nghiệp theo xu hướng bền vững được thể hiện trên 3 khía cạnh sau: - Đảm bảo nhịp độ tăng trưởng ổn định, hiệu quả: Mục tiêu tăng trưởng là mục tiêu theo đuổi của tất cả các nền kinh tế quốc dân. Bất cứ một ngành nào, một lĩnh vực nào nếu không có sự tăng trưởng sẽ gây trở ngại đối với tiến trình phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế. Đối với ngành sản xuất nông nghiệp việc theo đuổi mục tiêu tăng trưởng có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Ngành nông nghiệp là ngành cung cấp toàn bộ lương thực - thực phẩm phục vụ cho nhu cầu hàng ngày của con người. Hoạt động tiêu dùng diễn ra liên tục đòi hỏi quá trình sản xuất cũng phải diễn ra liên tục tương ứng. Bên cạnh đó, cùng với quá trình gia tăng tiêu dùng là sự ra tăng nhanh chóng về dân số. Nếu như ngành nông nghiệp không có sự tăng trưởng thì sẽ đẩy toàn xã hội vào tình trạng thiếu lương thực.
Đối với ngành nông nghiệp truyền thống, sản xuất theo kinh nghiệm, kỹ thuật lạc hậu sản lượng thường không ổn định. Ngược lại thì một trong những đặc trưng của nền nông nghiệp bền vững là sự ổn định và do đó phải đảm bảo tăng trưởng ổn định. Phát triển bền vững trong nông nghiệp đã bao hàm trong nó sự tăng trưởng ổn định và có hiệu quả, nó có ý nghĩa với việc nâng cao đời sống của dân cư khu vực sản xuất nông nghiệp và ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển chung của toàn bộ nề kinh tế - xã hội.[10] - Giải quyết có hiệu quả các vấn đề về mặt xã hội trong khu vực nông nghiệp, nông thôn: n 7 Tuyên bố của hội nghị Rio Ranerio đã khẳng định: “Xóa đói bỏ nghèo nàn là yêu cầu không thể thiếu của phát triển bền vững”. Đây là một đỉnh của tam giác phát triển bền vững: kinh tế - xã hội - mội trường.