MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Kinh tế hộ gia đình là một loại hình kinh tế tƣơng đối phổ biến và đƣợc phát triển ở nhiều nƣớc trên thế giới. Nó có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế, nhất là trong nông nghiệp. Ở Việt Nam, kinh tế hộ gia đình lại càng có ý nghĩa to lớn, bởi vì nƣớc ta bƣớc vào nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trƣờng trên nền tảng gần 80% dân số đang sinh sống ở nông thôn, trong đó lao động nông nghiệp khoảng 28 triệu ngƣời chiếm 78% về dân số và 70% về lao động.
Kinh tế hộ cũng là nền tảng tạo cơ sở vật chất tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó kinh tế hộ gia đình cũng là hạt nhân của việc thay đổi phƣơng thức sản xuất theo xu hƣớng thị trƣờng, vì vậy kinh tế hộ gặp không ít khăn, thách thức. Để đƣơng đầu với những khó khăn, thách thức trong phát triển kinh tế hộ Đảng và Nhà nƣớc ta đã và đang tiếp tục thực hiện đẩy mạnh công cuộc CNH, HĐH đất nƣớc đƣa đất nƣớc ta phát triển bền vững và toàn diện. Trong văn kiện hội nghị lần thứ V của BCHTW khóa IX chỉ rõ: “Xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng, kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại.
Từ nay đến năm 2015 tập trung mọi nguồn lực để thực hiện từng bƣớc cơ bản mục tiêu tổng quát và lâu dài đó” (Nguyễn Lân Dũng, 2008). Để phục vụ cho công cuộc CNH, HĐH đất nƣớc, nhà nƣớc ta đã triển khai nhiều công trình thủy điện lớn và nhỏ ở nhiều vùng, để xây dựng những công trình thủy điện thì việc di dân để dành đất cho công trình là việc hết sức cần thiết đối với kinh tế - xã hội của vùng. Dự án đầu tƣ xây dựng công trình nhà máy thủy điện Tuyên Quang đƣợc khởi công xây dựng năm 2003 theo Quyết định số 288/QĐ-TTg ngày 19 tháng 4 năm 2003 của Thủ Tƣớng Chính phủ. Công trình đƣợc xây dựng trên sông Gâm thuộc địa bàn huyện Na Hang tỉnh Tuyên Quang.
Nhiệm vụ chính của dự án là cung cấp điện n 2 năng để phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ CNH, HĐH đất nƣớc, đồng thời góp phần phòng chống lũ về mùa mƣa và cung cấp nƣớc tƣới cho sản xuất vào mùa khô vùng hạ du. Để hoàn thành công trình yêu cầu phải di dời số lƣợng lớn hộ dân sinh sống thuộc vùng lòng hồ và cộng đồng dân tộc Dao cũng thuộc diện đó. Năm 2004 cộng đồng ngƣời Dao nằm trong quy hoạch vùng lòng hồ đƣợc di chuyển và tái định cƣ tại xã Khuôn Hà, huyện Lâm Bình. Sau 10 năm sinh sống tại nơi ở mới đời sống kinh tế hộ gia đình của ngƣời Dao có nhiều chuyển biến, cuộc sống đã đƣợc cải thiện nhiều, tuy nhiên cũng còn gặp nhiều khó khăn và thách thức.
Để có cơ sở cho việc đề xuất những giải pháp cải thiện nâng cao đời sống của ngƣời Dao tái định cƣ, phát huy hiệu quả các chính sách tái định cƣ và nội lực của ngƣời Dao, tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế hộ của người Dao giai đoạn 2012 - 2015 sau di dân tái định cư tại xã Khuôn Hà - huyện Lâm Bình - tỉnh Tuyên Quang” Tôi hy vọng đề tài này sẽ góp phần giải quyết đƣợc những tồn tại trên và góp phần tạo ra bộ mặt mới cho sự phát triển kinh tế của ngƣời Dao nói riêng và xã Khuôn Hà nói chung. Mục đích nghiên cứu Đề tài góp phần xây dựng đƣợc cơ sở, đề xuất các giải pháp, phát huy hiệu quả các chính sách và nội lực của ngƣời Dao tái định cƣ của công trình nhà máy thủy điện Tuyên Quang. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế hộ của ngƣời Dao sau di dân giai đoạn 2012 - 2015. - Phân tích thuận lợi, khó khăn trong phát triển kinh tế hộ của ngƣời Dao - Đề xuất giải phát nhằm phát triển kinh tế và nâng cao đời sống của ngƣời Dao tại xã Khuôn Hà - Lâm Bình - Tuyên Quang.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu - Giúp cho sinh viên vận dụng các kiến thức tổng hợp đã học áp dụng vào thực tế. n 3 - Tạo cơ hội cho sinh viên cọ sát với thực tiễn sản xuất phục vụ cho công tác sau này. - Nâng cao khả năng nhìn nhận, đánh giá, thu thập và xử lý thông tin trong quá trình nghiên cứu.
Ý nghĩa trong thực tiễn - Dựa trên cơ sở đánh giá đƣợc hiệu quả kinh tế của các hộ gia đình ngƣời Dao tại xã Khuôn Hà. - Tìm ra những thuận lợi, khó khăn, từ đó đƣa ra những giải pháp khả thi khắc phục nhằm nâng cao đời sống của ngƣời Dao nói riêng và ngƣời dân tại địa phƣơng nói chung. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học về phát triển kinh tế hộ 2.
Một số khái niệm 2. Khái niệm về hộ Hộ là một tổ chức kinh tế - xã hội ra đời từ rất lâu, trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội cho tới nay nó vẫn tồn tại và phát triển. Trong từng gia đoạn, hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, hộ luôn là đối tƣợng thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa học, tổ chức thế giới. Theo từ điển chuyên ngành kinh tế và từ điển ngôn ngữ: “Hộ là những ngƣời sống chung dƣới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung ngân quỹ.
Nhóm ngƣời đó bao gồm những ngƣời cùng chung huyết tộc và những ngƣời làm công”. Theo Trần Văn Hà (1998) thì “Kinh tế nông hộ là đơn vị khai thác và kinh doanh nông nghiệp của những người cùng sông chung một mái nhà. Người chủ sản xuất là trưởng gia, là chủ nông hộ cùng những người thân nhân sử dụng một cách tổng hợp những yếu tố lao động, vốn, đất. Phương tiện sản xuất tác động vào môi trường sinh thái để làm ra sản phẩm, nhằm thỏa mãn những nhu cầu về đời sống vật chất của gia đình và cộng đồng xã hội” [3].
Hộ là “Đơn vị cơ bản, trong đó kinh tế sản xuất, tiêu thụ, thừa kế, nuôi con, và nơi trú ẩn được tổ chức và thực hiện”, “Có thể có hoặc không có thể đồng nghĩa với gia đình”.Gee: “Hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc, hay không cùng chung huyết tộc ở chung một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có chung ngân quỹ”. Có thể nói trải qua mỗi thời kỳ khác nhau, hộ và kinh tế hộ đƣợc biểu hiện dƣới dạng nhiều hình thức khác nhau, song vẫn còn bản chất chung là: Sự hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành viên trong gia đình, cố gắng làm sao tạo ra nhiều của cải vật chất để nuôi sống và tăng thêm tích luỹ cho gia đình và xã hội. n 5 Từ các quan niệm trên cho thấy hộ đƣợc hiểu nhƣ sau: - Trƣớc hết hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của các thành viên có chung huyết thống, tuy vậy có cá biệt trƣờng hợp thành viên của hộ không phải chung huyết thống. - Hộ nhất thiết là một đơn vị kinh tế (chủ thể kinh tế), có nguồn lao động và phân công lao động chung, có vốn và công trình, kế hoạch sản xuất kinh doanh chung, cùng ăn chung, là đơn vị vừa sản xuất vừa tiêu dùng, có chung một ngân quỹ.
- Cùng sống chung hoặc không cùng sống chung dƣới một mái nhà. - Hộ không đồng nhất với gia đình mặc dù cùng chung huyết thống bởi vì hộ là một đơn vị kinh tế riêng, còn gia đình có thể không phải là một đơn vị kinh tế, (Đinh Ngọc Lan, 2008)[6]. Khái niệm về kinh tế hộ gia đình Theo Phạm Khắc Hồng (1996): “Kinh tế hộ gia đình là loại hình sản xuất tự cấp, tự túc kết hợp với sản xuất hàng hóa nhỏ, chu yếu dựa trên sức lao động và tư liệu sản xuất của hộ gia đình” [5]. Theo Trần Công Quân (2000) thì: “Kinh tế hộ gia đình là hình thức kinh tế cơ bản và tự chủ trong nông lâm nghiệp được hình thành và tồn tại dựa trên cơ sở sử dụng đất đai sức lao động, tiền vốn,.của gia đình mình là chính”[10].
Khái niệm di dân Trong cuộc sống, con ngƣời di cƣ bởi nhiều nguyên nhân và mục đích khác nhau, với các khoảng cách xa gần khác nhau và vào các thời điểm khác nhau. Quá trình này chịu tác động bởi nhiều nhân tố kinh tế và xã hội, bởi vậy nó chứa đựng bản chất kinh tế - xã hội sâu sắc. Đây là một trong các điều kiện mấu chốt phân biệt hai bộ phận biến động dân số. Trong lịch sử cận đại phát triển xã hội loài ngƣời, các luồng di cƣ từ châu Âu sang châu Mỹ, châu Đại Dƣơng đã để lại những dấu ấn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội hiện nay.
Có nhiều định nghĩa về di dân đƣợc đƣa ra, mỗi định nghĩa xuất phát từ những phƣơng diện khác nhau, do đó khó có thể lựa chọn đƣợc định nghĩa thống n 6 nhất, bao quát mọi tình huống, bởi tính đa dạng, phức tạp của hiện tƣợng di dân. Không phải mọi sự di chuyển của con ngƣời đều đƣợc coi là di dân. Trƣớc hết ngƣơi ta phân biệt di dân với các hình thức di chuyển thông thƣờng hàng ngày: đi học, đi làm, đi du lịch,… Nhƣng thực tế có nhiều hình thức di chuyển nhƣ đi làm việc có thời hạn ở nƣớc ngoài, công tác biệt phái xa nhà, di chuyển theo thời vụ, chuyển cƣ do hôn nhân của phụ nữ theo các khoảng cách đủ xa nhất định, với những mục tiêu nghiên cứu đặc biệt, lại đƣợc coi là di dân. Bởi vậy, việc đƣa ra một định nghĩa di dân có ý nghĩa làm sáng tỏ thêm nội dung và các hình thức di dân.
Di dân là sự di chuyển của ngƣời dân theo lãnh thổ với những giới hạn về thời gian và không gian nhất định, kèm theo sự thay đổi nơi cƣ trú. Hiểu về di dân theo cách tiếp cận trên đây dựa vào các đặc điểm chủ yếu sau: Một là, con ngƣời di chuyển khỏi địa cƣ nào đó đến một nơi nào đó, với một khoảng cách nhất định. Nơi đi (nơi xuất cƣ) và nơi đến (nơi nhập cƣ) phải đƣợc xác định, có thể là vùng lãnh thổ hoặc vùng đơn vị hành chính.