CHƯƠNG 1. TONG QUAN NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN VE ĐÁNH GIÁ MỨC DO TRƯỞNG THÀNH CUA THỊ TRƯỜNG TÍN CHỈ CAC BON 1. Tổng quan các nghiên cứu quốc tế về đánh giá thị trường Cac Bon Trong bài “Đánh giá hiệu quả hoạt động và mức độ trưởng thành của chương trình thí điểm giao dịch các bon: Nghiên cứu trường hợp thị trường Các bon của Bắc Kinh” (2017). Nhóm tác giả đã đánh giá thị trường giao dịch Các bon tại Bắc Kinh bằng phương pháp TOPSIS và hệ số biến thiên.
Hai khía cạnh chính được nhóm tác giả tập trung là hiệu quả hoạt động bao gồm lợi ích môi trường, lợi ích xã hội và lợi ích kinh tẾ, ngoai ra mức độ trưởng thành cua thi trường sé được đo lường thông qua tính thanh khoản, quy mô thị trường và độ sâu thị trường. Kết quả chi ra mức độ trưởng thành của thị trường Bắc Kinh trương đối kém do tính thanh khoản không tốt; hoạt động quản lý chưa tốt hiệu quả kinh tế cần phải nâng cao. Kiến nghị của nhóm tác giả nhằm tăng cường quản lý hạn ngạch và tăng cường hoạt động giao dịch các bon đề tăng tính thanh khoản, đây nhanh các hoạt động giảm thải và cải tiến công nghệ, cải thiện cơ chế quản lý và tăng cường công bồ thông tin về giao dịch các bon.[5] Đã có bài nghiên cứu nghiên cứu của Liu Zhe và các cộng sự (2019) dé đánh giá mức độ trưởng thành của 7 khu vực thí điểm hệ thống giao dịch Các bon nhóm tác giả đã xây dựng hệ thống chỉ số dựa trên phiên bản phát triển của mô hình trưởng thành năng lực. Bài nghiên cứu sử dụng nguồn dé liệu liên quan từ các nguồn mở trên cơ sở dữ liệu của từng thị trường các bon thí điểm và các trang web của chính quyền tinh và thành phố địa phương từ năm 2013 đến năm 2019.
Kết quả chỉ ra Thâm Quyến và Bắc Kinh nằm trong nhóm đứng đầu, Quảng Đông, Hồ Bắc và Thượng Hải xếp thứ hai, Thiên Tân và Trùng Khánh xếp ở vị trí cuối. Các thị trường trên đều bị đánh giá hiệu quả về giá thực hiện chưa tốt. Mỗi thị trường sẽ có một động lực dé duy trì tính trưởng thành khác nhau. Một số kiến nghị của nhóm tác giả dé tăng mức độ trưởng thành cần thu hẹp quy mô doanh nghiệp, nâng cao mức độ pháp lý và tăng cường sự tham gia của các bên thứ ba.[6] Ngoài những nghiên cứu đánh giá mức độ trưởng thành của các thị trường thí điểm Các bon tại Trung Quốc.
Nghiên cứu của Fang Zhang và các cộng sự (2019) đã kết hợp đánh giá mức độ trưởng thành của thị trường Các bon Châu Âu và thị trường Các bon Trung Quốc. Nhóm tác giả đã kết hợp ba phương pháp bao gồm phương pháp lựa chọn tiêu chí tốt nhất tệ nhất (BMW), xác định tầm quan trọng của các tiêu chí thông qua mối tương quan giữa các tiêu chí (CRITIC) và phương pháp ra quyết định đa tiêu chí (TOPSIS). Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng thị trường EU là thị trường giao dịch các bon phát triển nhất, các thị trường Trung Quốc bị đánh giá thấp hơn thị trường Châu Âu [7]. Téng quan các bai nghiên cứu trong nước về đánh giá thị trường tin chỉ Các bon.
Mai Kim Liên và các cộng sự (2020) đã trình bày về kinh nghiệm quốc tế và những chính sách cho Việt Nam về thị trường tín chỉ các bon. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp tổng quan tài liệu dé tổng hợp kinh nghiệm hoạt động của các thi trường tín chỉ Các bon. Kết quả của nhóm nghiên cứu chỉ ra Châu Âu, New Zealand sẽ hoạt động theo nguyên tắc hạn mức và thương mại, các hạn mức tuyệt đối của số lượng khí phát thải sẽ được quy định và hạn mức của lượng khí phát thải sẽ giảm dần theo thời gian. Các doanh nghiệp, tổ chức sẽ được nhận được các tín chỉ, giấy phép phát thải thông qua qua hoạt động phân phối hoặc đấu giá.
Đối với Trung Quốc khác với thị trường EU Trung Quốc lựa chọn việc tập trung vào ngành năng lượng nơi tập trung phát thải khí Các bon nhiều nhất và mở ra các khu vực thí điểm với những vùng có độ phát triển tương đối về kinh tế và cường độ phát thải thấp hơn so với trung bình quốc gia, bằng cách thí điểm các khu vực có các đặc điểm khác nhau, Trung Quốc sẽ đánh giá được hiệu quả của đối với từng khu vực và cách quản lý thị trường sao cho đạt hiệu quả cao nhất. Đề xuất của nhóm chuyên gia là Việt Nam cần tập trung vào bốn khía cạnh bao gồm (1) chính sách, (2) Phạm vi và quy mô, (3) Tổ chức và vận hành thị trường, và (4) Hệ thống đo đạc, báo cáo và thâm định (MRV). Tác giả đã sử dụng phương pháp tông quan tài liệu để dé tông hợp kinh nghiệm hoạt động tại các khu vực trên thế giới. Kết quả nghiên cứu chỉ ra các quốc gia trên thé giới đều xây dựng hệ thống tin chỉ các bon theo cơ chế han mức và thương mại, tuy nhiên đối với mỗi quốc gia từng giai đoạn là khác nhau.
Đối với EU ở giai đoạn I, tác giả chỉ ra nguyên nhân khiến giá EU giảm mạnh do EU thiếu các số liệu chính xác mà chỉ dựa trên các ước lượng phat thải dé phát hành quyền phát thải. Tính minh bạch của EU cũng dần được nâng cao và được thiết lập chặt chẽ trong luật pháp. Điều này giúp EU có một thị trường đáng tin cậy với tính thanh khoản cao. Đối với Trung Quốc họ lựa chọn thí điểm 7 khu vực thí điểm áp dụng hệ thống tín chỉ các bon và áp dụng hệ thống tín chỉ các bon quốc gia đối với ngành điện, giống với sự thành công của Hàn Quốc thị trường Các bon là do cách tiếp cận theo từng giai đoạn phi hop với năng lực.
Đồng thời thúc day tăng cường thêm các quy tắc theo thời gian. Đề xuất của tác giả đối với Việt Nam, thứ nhất là xây dựng hệ thống Các bon theo từng gia đoạn và thí điểm từng khu vực. Thứ hai, Việt Nam cũng nên phân bồ các hạn ngạch căn cứ vào tình hình thực tế từng khu vực, phân bổ miễn phí trong giai đoạn đầu và cuối cùng là thông qua đấu thầu. Thứ ba, cân nhắc sử dụng các công cụ bình ồn thị trường.
Thứ tư, là đơn giản hóa phê duyệt các dự án va tài liệu liên quan.[9] Tác giả Trần Thục và các cộng sự đã có một bài nghiên cứu về cách ứng phó biến đổi khí hậu và bài học kinh nghiệm của Việt Nam. Tác giả đã sử dụng phương pháp phan tích và tổng hợp, phương pháp tham van các chuyên gia. Trong bài nghiên cứu tác giả đã trình bày các cách tiếp cận thị trường bao gồm: Các cơ chế mua bán phát thải các bon, trong đó công cụ này có thể được thực hiện theo hai hình thức hạn ngạch và mua bán hoặc có thê là bù trừ các bon. Ngoài ra tác giả trình bày thêm về thuế các bon, thuế các bon có thé là thuế đầu nguồn áp lên lượng các bon nguyên vật liệu và thuế cuối nguồn áp vào lượng phát thải khí nhà kính trực tiếp hoặc có thé là sự kết hợp của cả hai.
Tác giả cũng đã trình bày về kinh nghiệp của Thái Lan, Trung Quốc và Mỹ trong việc áp dụng thi trường các bon theo từng giai đoạn cụ thé và chỉ ra các nguyên nhân khiến cho Trung Quốc vận hành thị trường chưa hiệu quả chưa hiệu quả. Đối với Trung Quốc, bộ Sinh thái và Môi trường đã thừa nhận một số doanh nghiệp đã làm sai lệch các dữ liệu phát thải.[10] Một số hàm ý chính sách của nhóm tác giả dành cho Việt Nam là cần phải chú trọng số liệu đề thị trường tín chỉ các bon có thé vận hành 1 cách hiệu quả. Ngoài ra, phải xem xét hệ thống tín chỉ các bon như vai trò chính trong chuyên đôi ngành năng lượng điện 1. Đánh giá thực trạng thực tiễn phát triển thị trường tin chỉ Các bon tại Việt Nam.
Kết từ khi tham gia vào tô chức UNFCCC và tham gia Nghị định thư Kyoto vào năm 1997, chính phủ Việt Nam đã tập trung cam kết,thúc đây xây dựng thương mại các bon. Sau khoảng thời gian này Việt Nam đã xây dựng khung cơ sở pháp lý cho cơ chế phát triển Sạch (CDM) dé làm cơ sở cho cho các dự án được phê duyệt và cấp phép. Ngoài ra chính phủ Việt Nam cũng đã có các hướng dẫn tài chính trong công tác quản lý và phân bồ hạn ngạch các-bon làm nền tảng cho việc thực hiện giao dịch và chuyền nhượng tín chỉ các-bon. [11] Nghị quyết 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2013 đã đặt sự ưu tiên vào các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và phát triển thị trường cácbon trước những biến đổi khôn lường của khí hậu.
Vào năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu. Sau đó, năm 2017, Luật Lâm nghiệp và năm 2020, Luật Bảo vệ môi trường đã trải qua các sửa đôi và bổ sung quan trọng dé thúc đây thị trường các-bon. Đặc biệt, sau Hiệp ước khí hậu Glasgow năm 2021, cơ sở pháp lý quan lý tín chỉ các-bon và phân bổ hạn 10 ngạch khí nhà kính đã được bổ sung thông qua Nghị định 06/2022/NĐ-CP, Thông tu 01/2022/TT-BTNMT, Quyết định 59/QD-BTNMT và Quyết định 2626/QD-BTNMT. Các văn bản này cung cấp lộ trình, thủ tục hành chính và danh mục hệ số phát thải dé hỗ trợ quá trình kiểm kê, tổng hợp và phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính.
Sự phát triển nhanh chóng tại Việt Nam đòi hỏi sự cấp thiết trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý về quản lý tín chỉ các-bon và phân bổ hạn ngạch khí nhà kính. Theo Báo cáo của Cục Biến đồi khí hậu thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), Việt Nam hiện xếp thứ tư trên toàn cầu về số lượng dự án triển khai CDM, với tổng cộng 258 dự án đã được Ban điều hành CDM phê duyệt và 13 Chương trình hoạt động theo CDM. Tiềm năng giảm lượng khí CO2 tương đương trong thời hạn tín chỉ của những dự án này lên tới gần 140 triệu tan. Trong số các dự án này, 17 dự án đã theo Tiêu chuẩn Vang va đã phát hành hơn 3 triệu tín chỉ quốc tế.
Ngoài ra, 24 dự án theo Tiêu chuẩn Cácbon đã qua thâm tra và đã phát hành hơn 600 nghìn tín chỉ.