Chương 1: Cơ sở lý luận về Đánh giá thành tích nhân viên Chương 2: Thực trạng công tác Đánh giá thành tích nhân viên tại khách sạn VINPEARL Đà Nẵng Chương 3: Hoàn thiện công tác Đánh giá thành tích nhân viên tại khách sạn VINPEARL Đà Nẵng. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu Quản trị nguồn nhân lực và đánh giá thành tích nhân viên là lĩnh vực nhận được sự quan tâm của rất nhiều giới nghiên cứu. Có rất nhiều giáo trình, các đề tài, các bài báo, tạp chí tập trung nghiên cứu vấn đề này, để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, tôi đã chọn và tham khảo các tài liệu: Giáo trình “Quản trị nguồn nhân lực” của các tác giả: Nguyễn Quốc Tuần, Đoàn Gia Dũng, Đoàn Hữu Hòa, Nguyễn Thị Loan, Nguyễn Thị Bích Thu, Nguyễn Phúc Nguyên (2006); Trần Kim Dung (2001), Quản trị nguồn nhân lực, nhà xuất bản Giáo Dục; Nguyễn Hữu Thân (2004), Quản trị nhân sự, Nhà xuất bản thống kê TP Hồ Chí Minh; TS.Nguyễn Thanh Hội, Khoa quản trị kinh doanh trường Đại Học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh; Mỗi tác 13 giáo trình đều trình bày rất cặn kẽ khái niệm, nội dung cũng như quy trình đánh giá thành tích nhân viên. Nhìn chung các nội dung trong tiến trình đánh giá không có sự khác biệt giữa các tác giả, tuy nhiên đối với phương pháp đánh giá thành tích Giáo trình “Quản trị nguồn nhân lực” của Nguyễn Quốc Tuần chủ biên có trình bày thêm nhiều phương pháp mới như đánh giá thành tích nhân viên.
Về cơ bản, các tài liệu này đã nêu bật tầm quan trọng chiến lược của đánh giá thành tích như công cụ điều chỉnh hành vi phù hợp với văn hóa và chiến lược của tổ chức, các tiêu chuẩn cho một hệ thống đánh giá tốt, tiến trình đánh giá, quản trị thành tích và nâng cao hiệu quả công tác đánh giá. Các giả đã đưa ra khái niệm: “Đánh giá thành tích là tiến trình đánh giá những đóng góp của nhân viên cho tổ chức trong một giai đoạn. Hầu hết các nghiên cứu về đánh giá thành tích đều có gắng trả lời các câu hỏi: đánh giá cái gì, đánh giá như thế nào, ai đánh giá, đánh giá khi nào, mức độ thường xuyên mà đánh giá cần thực hiện và mục tiêu nào mà thông tin đánh giá thành tích được sử dụng. Tài liệu của Trần Thi Kim Dung đưa ra một cái nhiền tổng hợp về những vấn đề đánh giá năng lực thực hiện công việc của nhân viên, về mục đích của đánh giá thành tích, mô tả nội dung, trình tự thực hiện quy trình đánh giá thành tích; Biết cách nâng cao chất lượng đánh giá thành tích và thực hiện đánh giá các phòng, ban, bộ phận Tài liệu của Nguyễn Thanh Hội cho rằng “Đánh giá thành tích là tiến trình xác định, đo lường, đánh giá những đóng góp của nhân viên cho tô chức bằng cách so sánh tiêu chuẩn đặt ra, sau đó truyền thông đến nhân viên kết quả đánh giá”.
Đánh giá năng lực thực hiện công việc của nhân viên được sử dụng cho các mục đích: Giúp nhân viên so sánh thành quả của mình với tiêu chuẩn doanh nghiệp đề ra và với các nhân viên khác, từ đó chỉnh sửa, duy trì, phát triển năng lực của mình; cung cấp thông tin để xấy dựng chiến lược đào tạo, huấn luyện, nâng lương, khen thưởng, bồ trí công tác. 14 Ngoài giáo trình thì các công trình nghiên cứu về đánh giá thành tích nhân viên cũng rất đa dạng, các tác giả đã ứng dụng được hệ thống lý luận đánh giá thành tích nhân viên dựa trên cách giáo trình, công trình nghiên cứu từ đó ứng dụng xây dựng, hoàn thiện công tác đánh giá thành tích nhân viên ở từng doanh nghiệp cụ thể. Điển hình như một số công trình như sau: - Mai Xuân Đông (2014), Giải pháp nâng cao công tác đánh giá thành tích công tác trong công ty tài chính cổ phần điện lực, luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng. Tác giả đưa ra các giải pháp nâng cao công tác đánh giá thành tích công tác tập trung vào các nội dung như xác định mục tiêu đánh giá, tiêu chuẩn đánh giá, phương pháp đánh giá, đối tượng đánh giá và thời điểm đánh giá.
Ở luận văn này tác giả chưa đề cập đến quy trình mô tả các bước trong đánh giá thành tích trong nhân viên và chư chú trọng đến công tác phản hồi sau đánh giá. - Nguyễn Thị Thúy Hằng (2014), “Đánh giá thành tích nhân viên tại Công ty Chứng khoán Dầu khí, luận văn Quản trị kinh doanh, Đại học Duy Tân. Trong công trình nghiên cứu này tác giả đã nhấn mạnh đến việc hoàn thiện mục tiêu, tiêu chuân đánh giá thành tích và quy trình đánh giá thành tích tại Công ty chứng khoán dầu khí. Công tác đánh giá phản hồi sau đánh giá được tác giả đề cập đến, tuy nhiên nội dung còn sơ sài, chưa chỉ tiết biện pháp cải thiện mà còn mang tính định hướng chung chung.
Ngoài các giáo trình và 2 bài luận văn điển hình trên còn rất nhiều bài báo và tạp chí đề cập đến đánh giá thành tích nhân viên. Đây là những nguồn tài liệu quan trong giúp tác giả hệ thống cơ sở lý luận về đánh giá thành tích cũng như học tập phương pháp, kinh nghiệm trong phân tích thực trạng đánh giá thành tích tại đơn vị nghiên cứu từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đánh giá thành tích. Qua hơn 5 năm thành lập và đi vào hoạt động cho đến thời điểm hiện nay, chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu chuyên sâu một cách có hệ 15 thống về lý luận và thực tiễn công tác đánh giá thành tích tại Vinpearl Đà Nẵng. Là một khách sạn 5 sao, để đạt được chất lượng dịch vụ luôn ổn định, nâng cao công tác phục vụ bằng hoàn thiện công tác đánh giá nhân viên là vấn đề cấp thiết hiện nay.
Tôi mong muốn cung cấp một cách nhìn tổng quát về công tác đánh giá thành tích nhân viên tại các công ty đề từ đó đưa ra các điểm còn tồn tại và đề xuất các giải pháp cải tiến đánh giá thành tích nhằm thúc đây và phát triển nguồn nhân lực tại khách sạn VINPEARL Đà Nẵng. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ ĐÁNH GIÁ THÀNH TÍCH NHÂN VIÊN TRONG KHÁCH SẠN 1. KHAT QUAT VE HOAT DONG KINH DOANH CUA KHACH SAN 1.1 Khái niệm Thuật ngữ “Hotel” — khách sạn có nguồn gồ từ tiếng Pháp, thời trung cổ nó được dùng để chỉ lâu đài của các lãnh chúa. Từ khách sạn theo nghĩa hiện đại được dùng ở Pháp vào cuối thé ky XVII, dén cuối thể kỷ XIX mới được phổ biến ở các nước khác.
Đến nay khách sạn đã trở nên phô biến ở các quốc gia và mỗi quốc gia khác nhau đều có một khái niệm về khách sạn khác chẳng hạn như: Vương quốc Bỉ: Khách sạn phải có ít nhất từ 10 đến 15 buồng ngủ để cho thuê. Cộng Hòa Pháp: Khách sạn là một cơ sở lưu trú được xếp hạng, có các buông và căn hộ với các trang thiết bị tiện nghỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi của khách trong một thời gian dài (có thể là hàng tuần hoặc hang tháng nhưng không lấy đó làm nơi cu trú thường xuyên), có thể nhà hàng. Khách sạn có thể hoạt động quanh năm hoặc theo mùa. Tại Việt Nam trong quy định về tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn TCVN 4391:2009 thì có khái niệm “Khách sạn (hotel) là cơ sở lưu trú du lịch có quy mô từ 10 buồng ngủ trở lên, đảm bảo chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết bị và dịch vụ cần thiết phục vụ khách”.
Kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh trên cơ sở cung cấp các dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bổ sung cho khách nhắm đáp ứng các nhu cầu ăn, nghỉ và giải trí của họ tại các điểm du lịch nhằm mục đích có lãi.2 Phân loại khách sạn Theo tiêu chuẩn Việt Nam về xếp hạn khách sạn TCVN 4391:2009 về cơ bản khách sạn có các loại như sau: * Khách sạn thành phố (city hotel) Khách sạn được xây dựng tại các đô thị, chủ yếu phục vụ khách thương gia, khách công vụ, khách tham quan du lịch. * Khách sạn nghỉ dưỡng (hotel resort) Khách sạn được xây dựng thành khối hoặc thành quần thể các biệt thự, căn hộ, băng-ga-lâu ở khu vực có cảnh quan thiên nhiên đẹp, phục vụ nhu cầu nghỉ dưỡng, giải trí, tham quan của khách du lịch. * Khách sạn nổi (floating hotel) Khách sạn neo đậu trên mặt nước và có thể di chuyển * Khách sạn bên đường (motel) Khách sạn được xây dựng gần đường giao thông, gắn với việc cung cấp nhiên liệu, bảo dưỡng, sửa chữa phương tiện vận chuyển và cung cấp các dịch vụ cần thiết phục vụ khách.3 Đặc điểm của sản phẩm khách sạn - Sản pham dịch vụ của khách sạn mang tính vô hình. Do sản phẩm khách sạn không tồn tại dưới dạng vật chất, không thé nhìn thấy hay sờ thấy cho nên cả người cung cấp và người tiêu dùng đều không thể kiểm tra được chất lượng của nó trước khi bán và trước khi mua.
Người ta cũng không thể vân chuyển sản phẩm dịch vụ khách sạn trong không gian như hàng hóa thông thường khác. Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống phân phối sản phẩm của khách sạn bởi lẽ chỉ có sự vận động một chiều trong phân phối theo hướng khách hàng phải tự đến đề tiêu dùng dịch vụ. Đây là một điểm gây khó khăn cho việc thu hút khách và giữ khách cho khách sạn. 18 - Sản phâm khách sạn là dịch vụ không thể lưu kho cất trữ được.
Quá trình sản xuất và tiêu dùng gần như trùng nhau về thời gian và không gian. - San phẩm khách sạn có tính cao cấp. Khách của khách sạn chủ yếu là khách du lịch. Họ là những người có khả năng thanh toán và khả năng chi trả cao hơn mức tiêu dùng thông thường.
Vì thế yêu cầu đòi hỏi của họ về chất lượng sản phâm mà họ bỏ tiền ra mua trong thời gian du lịch là rất cao. Khách sạn muốn tồn tại và phát triển thì cần đảm bảo cung cấp những sản phẩm dịch vu co chat lượng cao, làm thỏa mãn được nhu cầu khác hàng. - Sản phâm khách sạn có tính tổng hợp cao. Tính tổng hợp xuất phát trừ đặc điểm nhu cầu của khách du lịch.
Vì thế trong cơ cấu của sản phẩm khách sạn chúng ta đã thấy có nhiều chủng loại sản phẩm dịch vụ khách sạn. Đặc biệt là các dịch vụ bổ sung và các dịch vụ giải trí đang có xu hướng tăng lên.