Chương 1 TỔNG QUAN 1. Đại cương về tai nạn thương tích 1. Một số khái niệm - Tai nạn: Là một sự kiện xảy ra bất ngờ ngoài ý muốn do một tác nhân bên ngoài gây nên các tổ thương/ thương tích cho cơ thể về thể chất hay tâm hồn của nạn nhân, gồm: tai nạn không chủ đích và tai nạn có chủ đích [12]. - Thương tích: Là những thương tổn thực thể trên cơ thể người do tác động của những năng lượng (bao gồm cơ học, nhiệt, điện, hoá học hoặc phóng xạ) với mức độ, tốc độ khác nhau quá sức chịu đựng của cơ thể người.
Ngoài ra, chấn thương còn là sự thiếu hụt các yếu tố cần thiết cho sự sống như trong trường hợp đuối nước, bóp nghẹt hoặc đông lạnh [44], [60], [62]. - Tai nạn thương tích (TNTT): Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), TNTT là các tổn thương thực thể trên cơ thể người gây nên bởi sự tác động bên ngoài vượt quá sức chống đỡ của cơ thể. TNTT có thể là một vết thương trên cơ thể do phơi nhiễm với một lực tác động quá mức, hoặc có thể một rối loạn chức năng xảy ra do một sự thiếu hụt một yếu tố thiết yếu cho cuộc sống (không khí, nước, nhiệt độ cần thiết) như: ngạt, sự tắc ngẽn đường thở hoặc bị cóng [32], [31], [75]. - Tử vong do tai nạn: Là những trường hợp tử vong do nguyên nhân TNTT trong vòng 1 tháng sau khi TNTT [12].
- Tai nạn thương tích tại cộng đồng: Là tập hợp tất cả các trường hợp TNTT trong cộng đồng gây ra bởi mọi nguyên nhân và xảy ra ở mọi lứa tuổi. Do đó, TNTT trong cộng đồng có thể được hiểu là một khái niệm rộng bao hàm nhiều phân loại TNTT khác nhau hiện đang được sử dụng như: tai nạn luan an 4 giao thông (TNGT), tai nạn sinh hoạt (TNSH), TNLĐ, TNTT trong trường học [12]. - Cộng đồng an toàn (CĐAT): là cộng đồng có khả năng kiểm soát và phòng ngừa được các loại TNTT cũng như giảm thiểu các yếu tố nguy cơ gây tai nạn và thương tích trên. Quá trình xây dựng CĐAT phải có sự tham gia của tất cả các thành viên trong cộng đồng, chính quyền địa phương, các cấp ủy Đảng, chính quyền và các ban ngành, đoàn thể ở địa phương [16], [32].
Phân loại tai nạn thương tích - Phân loại TNTT theo loại hình thương tích: gồm 02 loại [60]: + TNTT không chủ định, không chủ ý: là hậu quả TNGT, đuối nước, bỏng và ngã; cũng có thể do nghẹn/hóc, ngộ độc, do bom mìn và các vật liệu nổ gây ra, do côn trùng và súc vật cắn/đốt… Hầu hết các TNTT không chủ ý đều có thể phòng tránh được. + TNTT có chủ định, chủ ý: là do chủ ý của con người gồm tự thương, tự tử, thương tật do bạo lực, lạm dụng hoặc bị bỏ rơi. - Phân loại TNTT theo nguyên nhân: gồm các nhóm chính sau: + Tai nạn lao động: là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động [58]. + Tai nạn trường học: là các trường hợp chấn thương xảy ra trong khuôn viên của trường như: trong lớp học, sân trường, khu luyện tập thể thao, hành lang, khu vệ sinh [62].
+ Ngã: gồm tất cả các trường hợp ngã không nằm trong lĩnh vực giao thông và lao động [45], [62]. + Tai nạn giao thông: là sự va chạm bất ngờ nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người, xảy ra khi các đối tượng tham gia giao thông đang hoạt động trên đường giao thông công cộng, đường chuyên dụng hoặc ở địa bàn luan an 5 giao thông cộng cộng nhưng do chủ quan vi phạm luật lệ giao thông hoặc do gặp phải các tình huống sự cố đột xuất không kịp phanh tránh, gây ra thiệt hại về tính mạng hoặc sức khoẻ [14], [15], [62]. + Đuối nước/ngạt: Trường hợp mắc là bị ngạt do chìm trong chất lỏng nhưng không tử vong, cần đến chăm sóc y tế hoặc bị biến chứng khác. Chết đuối là trường hợp tử vong trong 24 giờ do bị chìm trong chất lỏng (như: nước, xăng, dầu…) [45], [62].
+ Súc vật cắn, đốt, húc: là trường hợp con người bị các loại động vật tấn công như: chó, mèo cắn; trâu, bò húc; rắn, rết cắn hoặc ong đốt, bọ cạp đốt… Động vật cắn có thể gây đau, xây xước da, nhiễm trùng, nhiễm độc và có thể dẫn đến tử vong. + Bỏng: là tổn thương một hoặc nhiều lớp tế bào da khi tiếp xúc chất lỏng nóng, chất rắn nóng, lửa. Các chấn thương da do sự phát xạ tia cực tím hoặc phóng xạ, điện, hóa chất… [45], [62]. + Ngộ độc: là những trường hợp hít, ăn hoặc tiêm vào cơ thể các loại độc tố dẫn đến tử vong hoặc ngộ độc cần có sự chăm sóc y tế [45], [62].
+ Tự tử: là trường hợp chấn thương, ngộ độc, hoặc ngạt… do chính nạn nhân hành động cố ý tự giết bản thân mình. Các yếu tố nguy cơ của tự tử như rối loạn tâm lý (chán nản, suy sụp, rối loạn nhân cách, mắc bệnh tâm thần phân liệt) và mắc một số bệnh như mắc bệnh ung thư, HIV/AIDS [45], [62]. + Bạo lực trong gia đình, xã hội: là hành động sử dụng vũ lực hăm dọa hoặc đánh đập người, nhóm người, cộng đồng khác dẫn đến chấn thương, tử vong, tổn thương tinh thần, chậm phát triển [62]. + Khác: là những trường hợp khác ngoài các trường hợp trên như: sét đánh, sặc bột, hóc xương.
Yếu tố nguy cơ tai nạn thương tích Các yếu tố nguy cơ gây nên TNTT có thể chia làm 3 nhóm, cụ thể: luan an 6 - Yếu tố xã hội: Các yếu tố kinh tế xã hội có liên quan với nguy cơ TNTT ở trẻ bao gồm: các yếu tố kinh tế như thu nhập gia đình; Các yếu tố xã hội như học vấn của bà mẹ; Các yếu tố liên quan đến cơ cấu gia đình như gia đình một bố/một mẹ, tuổi của mẹ, số người trong hộ gia đình và số con; Các yếu tố liên quan đến chỗ ở như loại hình thuê nhà, loại nhà, mức độ quá đông và các yếu tố khác mô tả khu dân cư [75], [88]. Các nghiên cứu về vấn đề này cũng cho thấy tỷ suất trẻ em chết do TNTT ở các quốc gia có mức thu nhập thấp và trung bình cao gấp 5 lần so với các quốc gia có thu nhập cao [50]. - Yếu tố con người: Yếu tố con người có liên quan đến TNTT tùy thuộc vào giới tính, tuổi, nhận thức và hành vi, tình trạng sức khỏe, việc sử dụng rượu bia và các chất kích thích khác. Lopez, khi nghiên cứu các yếu tố nguy cơ gây nên TNTT ở các nước đang phát triển cho thấy nam giới có nguy cơ bị TNTT cao hơn nữ giới.
Nguồn điện tiếp xúc, va chạm ô tô, đánh nhau là những nguyên nhân gây nên TNTT thường gặp ở nam giới; trong khi đó ở nữ giới thường có các nguy cơ bị TNTT do bỏng, ngộ độc nhiều hơn [103]. Mô hình dịch tễ học đặc thù về tử vong do TNTT theo lứa tuổi tại Việt Nam cho thấy: Từ lúc sơ sinh cho đến tuổi dậy thì, đuối nước là nguyên nhân phổ biến, nổi bật gây tử vong ở các nhóm tuổi. Bắt đầu sau lứa tuổi dậy thì, TNGT đường bộ bắt đầu phổ biến và tăng nhanh khi tuổi càng tăng [50], [36], [60]. - Yếu tố môi trường: Yếu tố môi trường cũng là mối nguy cơ gây nên TNTT bao gồm: + Môi trường vật chất gồm các yếu tố nguy cơ ngay ở trong nhà, tại trường học và trong cộng đồng.
Ví dụ như nguy cơ gây nên sự gia tăng TNGT là cơ sở hạ tầng, đường sá không bảo đảm an toàn [50]. luan an 7 + Môi trường phi vật chất gồm các yếu tố có liên quan như những văn bản pháp luật quy định đến vấn đề an toàn chưa đồng bộ; việc thực thi các quy định, luật an toàn chưa tốt, chưa kiểm tra, giám sát việc thực hiện, chưa có các biện pháp xử phạt rõ ràng; việc truyền thông giáo dục về an toàn chưa được thực hiện một cách đầy đủ. Có thể thấy ở mỗi khu vực, mỗi quốc gia có các yếu tố nguy cơ đặc thù riêng nên cũng có mô hình TNTT với đặc điểm riêng. Do đó các chương trình, biện pháp can thiệp để phòng chống tai nạn thương tích (PCTNTT) nói chung và PCTNTT cho trẻ em nói riêng cần được thiết kế phù hợp cho từng khu vực, từng quốc gia mới có thể mang lại hiệu quả một cách thiết thực [50].
Trẻ em là đối tượng có nguy cơ cao đối với TNTT bởi những lý do: - Trẻ em không phải là những người lớn thu nhỏ [108]. Hành vi của trẻ em khác với hành vi của người lớn, trẻ có nguy cơ bị TNTT ngay tại ngôi nhà của mình [75]. Khi trẻ em phát triển, tính tò mò và mong ước được thử nghiệm của chúng không phải lúc nào cũng tương xứng với khả năng hiểu biết và ứng phó với nguy hiểm [84]. - Kích thước nhỏ bé của trẻ em làm tăng nguy cơ khi đi bộ [111], [113].
Trẻ nhỏ có thể thiếu kiến thức, kỹ năng và mức độ tập trung cần thiết để xử lý môi trường đường bộ, cho dù tình trạng đường có tốt đến mấy [75], [110]. - Da của trẻ nhỏ dễ bị bỏng sâu và nhanh hơn, ở nhiệt độ thấp hơn so với da dầy hơn ở người lớn [113]. Kích thước khí quản nhỏ hơn làm tăng nguy cơ khi hít vào. Với cùng lượng chất độc trẻ em sẽ có nhiều khả năng ngộ độc hơn so với người lớn vì trọng lượng nhỏ hơn [85].
- Với các cháu nhỏ, trong quá trình khám phá thế giới, có thể rơi từ trên cao bởi vì khả năng leo trèo của chúng chưa tương xứng với khả năng cân bằng hoặc suy luận [113]. Nguyên tắc và các cấp độ dự phòng tai nạn thương tích Việc PCTNTT cần phải căn cứ vào các loại hình, nguyên nhân gây nên cũng như thực hiện các cấp độ dự phòng một cách có hiệu quả. Mô hình cổ điển: Căn cứ vào quá trình TNTT, có 03 cấp độ dự phòng [75]: - Dự phòng cấp 1 (Phòng chống giai đoạn ban đầu): là dự phòng trước khi TNTT xảy ra. Mục đích của việc dự phòng là không để xảy ra TNTT bằng cách loại bỏ các yếu tố nguy cơ hoặc không tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ gây nên TNTT.
- Dự phòng cấp 2 (Phòng chống giai đoạn hai): dự phòng trong khi TNTT xảy ra.