Đặt vấn đề Vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là sản phẩm rau đang đuợc xã hội đặc biệt quan tâm. Sản phẩm rau bị nhiễm vi sinh vật có hại, hóa chất độc hại, kim loại nặng, thuốc BVTV không chỉ ảnh hƣởng nghiêm trọng trực tiếp đến sức khỏe nguời tiêu dùng mà còn giảm tính cạnh tranh của nông sản hàng hóa trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới. Phát triển nông nghiệp theo hƣớng ứng dụng công nghệ cao là một tất yếu của quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong sản xuất nông nghiệp của tất cả các Quốc gia. Sản xuất nông nghiệp theo hƣớng công nghệ cao sẽ tạo ra khối lƣợng hàng hóa lớn có năng suất cao, chất lƣợng tốt, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trƣờng, đáp ứng yêu cầu hội nhập Quốc tế - vấn đề ngày càng cấp bách đối với nông nghiệp nƣớc ta hiện nay.
Căn cứ định hƣớng tăng cƣờng các sản phẩm sạch, hữu cơ trong khẩu phần ăn của ngƣời tiêu dùng các nƣớc trên thế giới, thƣơng mại rau quả của thế giới đã gia tăng rõ rệt so với một thập kỷ trƣớc. Ngày càng có nhiều ngƣời sử dụng rau nhƣ một nguồn dinh dƣỡng quan trọng và thay đổi thói quen ăn uống phụ thuộc vào chất béo sang sử dụng nhiều rau củ. Xu hƣớng này đang trở nên phổ biến đến mức nhiều hãng bán lẻ đã sử dụng hình ảnh rau quả sạch để làm thông điệp cho tinh thần trách nhiệm xã hội của mình. Các cuộc điều tra cho thấy mặc dù nhận thức rất rõ về giá trị của rau củ đối với việc tăng cƣờng sức khỏe nhƣng ngƣời tiêu dùng đang ngày càng quan tâm hơn tới vấn đề giá cả do lo ngại suy thoái kinh tế vẫn có thể kéo dài.
Tuy nhiên, cũng theo các chuyên gia trong ngành, khi nền kinh tế phục hồi, nhu cầu tiêu thụ rau chắc chắn sẽ tăng mạnh trở lại. Trƣớc mắt, để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ cơ bản, ngƣời tiêu dùng sẽ vẫn 2 chấp nhận một số loại rau giá cạnh tranh hơn đƣợc nhập khẩu từ các nƣớc đang phát triển. Những xu hƣớng chung của thƣơng mại rau thế giới cho thấy nhu cầu đối với rau hữu cơ đang ngày càng gia tăng do lợi ích đặc biệt của nó đối với việc bảo vệ sức khỏe, kéo dài tuổi thọ và bảo vệ môi trƣờng. Nhƣng do chi phí sản xuất rau hữu cơ tại các nƣớc phát triển quá cao nên việc nhập khẩu rau đảm bảo VSATTP từ các nƣớc đang phát triển vẫn là lựa chọn đƣợcƣu tiên.
Đây là một cơ hội tốt cho ngành rau an toàn của Việt Nam trong việc chuẩn hóa hoạt động sản xuất, kinh doanh để tìm kiếm cơ hội xuất khẩu rau sạch ra nƣớc ngoài. Các mô hình này một khi đƣợc nhân rộng sẽ tạo nên mặt bằng chuyên nghiệp chung cho sản xuất và thƣơng mại rau của Việt Nam. Dựa vào nhu cầu thị trƣờng ngày càng tăng cao, nhằm đáp ứng nhu cầu thị trƣờng và tạo môi trƣờng kinh doanh lành mạnh, ứng dụng công nghệ mới và qui trình sản xuất chế biến rau an toàn là hết sức cần thiết. Phù hợp với chủ trƣơng của chính phủ và mong muốn của Doanh nghiệp.
Công ty TNHH MTV Chế biến nông sản Đông Triều sau khi nghiên cứu tình hình, xu thế thị trƣờng xuất nhập khẩu rau trên thế giới, đặc biệt là thị trƣờng Hàn Quốc, Trung Quốc và tình hình sản xuất rau an toàn tại Việt Nam đã đầu tƣ xây dựng Nhà máy chế biến nông sản và nông trại trực tiếp quản lý, nhằm thúc đẩy ngành sản xuất nông nghiệp của tỉnh phát triển theo hƣớng CNH – HĐH. Sau khi dự án đi vào hoạt động thị trƣờng cung cấp sản phẩm của dự án là 40% cung cấp cho khách hàng Hàn Quốc tại Việt Nam nhƣ: Nhà máy Sam Sung Bắc Ninh, nhà máy Sam Sung Thái Nguyên, Panasonic, nhà máy LG Hải Phòng và các nhà hàng Hàn Quốc tại Hà Nội, Bắc Ninh. Còn 60% xuất khẩu sang thị trƣờng Hàn Quốc. Hoạt động sản xuất mang lại nhiều lợi ích về kinh tế nhƣng cũng mang lại một số vấn đề về môi trƣờng cần giải quyết, do đó ĐTM là một việc hết sức cần thiết nhằm đem lại 3 hiệu quả cao trên cả ba mặt kinh tế – xã hội – môi trƣờng.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, em xin tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá tác động môi trường dự án đầu tư xây dựng nhà máy chế biến nông sản và nông trại trực tiếp quản lý tại Thị xã Đông Triều, Tỉnh Quảng Ninh”. Mục tiêu nghiên cứu + Mục tiêu chung: Đánh giá những tác động của dự án đến môi trƣờng. Từ đó, đƣa ra những giải pháp nhằm bảo vệ môi trƣờng và đảm bảo sức khỏe cộng động dân cƣ sống trong khu vực. + Mục tiêu cụ thể: - Đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và hiện trạng môi trƣờng khu vực dự án.
- Phân tích và dự báo những tác động tích cực và tiêu cực, các tác động trực tiếp và gián tiếp do hoạt động xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật của Dự án tới môi trƣờng tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực thực hiện Dự án và các khu vực lân cận. - Phân tích và dự báo những tác động tới môi trƣờng của dự án khi dự án đi vào hoạt động. - Đề xuất các giải pháp tổ chức quản lý và kỹ thuật công nghệ giúp phòng tránh và giảm thiểu các tác động xấu tới môi trƣờng xung quanh trong quá trình hoạt động của dự án nhằm bảo vệ môi trƣờng và đảm bảo sức khỏe cộng động dân cƣ sống trong khu vực. Ý nghĩa của đề tài + Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: - Là nguồn tƣ liệu cho các đề tài sau.
- Cung cấp thêm nguồn thông tin. + Trong thực tiễn sản xuất: 4 - Đánh giá đƣợc mức độ anh hƣởng do các hoạt động trong quá trình xây dựng cũng nhƣ trong thời gian nhà máy đi vào hoạt động đến môi trƣờng và đời sống của ngƣời dân xung quanh. - Dự báo các sự cố có thể xảy ra, từ đó đề ra các biện pháp giảm thiểu và cách khắc phục. 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Đánh giá tác động môi trƣờng (ĐTM) 2. Khái niệm Đánh giá tác động môi trƣờng bao gồm nhiều nội dung và không có định nghĩa thống nhất. Một số định nghĩa về đánh giá tác động môi trƣờng đƣợc nêu dƣới đây: Luật Bảo vệ môi trƣờng do Quốc hội nƣớc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 23/6/2014 định nghĩa “Đánh giá tác động môi trƣờng là việc phân tích, dự báo tác động đến môi trƣờng của dự án đầu tƣ cụ thể để đƣara biện pháp bảo vệ môi trƣờng khi triển khai dự án đó” Chƣơng trình Môi trƣờng của Liên Hợp quốc (UNEP, 1991): “ĐTM là quá trình nghiên cứu nhằm dự báo các hậu quả về mặt môi trƣờng của một dựán phát triển”. Ủy ban Kinh tế Xã hội Châu Á và Thái Bình Dƣơng (ESCAP, 1990): “ĐTM là quá trình xác định, dự báo và đánh giá tác động của một dự án, mộtchính sách đến môi trƣờng”.
Ngân hàng Thế giới (WB, 2011): “ĐTM là công cụ để nhận dạng và đánh giá các tác động tiềm năng đến môi trƣờng của 1 dự án đƣợc đề xuất, đánh giá các phƣơng án thay thế và thiết kế các biện pháp giảm thiểu, quản lý và giám sát phù hợp”/ Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB, 2009): “Đánh giá môi trƣờng là thuật ngữ dùng để mô tả quá trình phân tích môi trƣờng và lập kế hoạch xem xét các tác động và rủi ro về môi trƣờng liên quan với dự án. Mục đích, ý nghĩa của đánh giá tác động môi trường ĐTM có thể đạt đƣợc nhiều mục đích,trong giáo trình Đánh giá tác động môi trƣờng – Phạm Ngọc Hồ và Hoàng Xuân Cơ đã chỉ ra vai trò, mục đích của ĐTM trong phát triển kinh tế – xã hội với 10 điểm chính sau: (1) ĐTM nhằm cung cấp một quy trình xem xét tất cả các tác động có hại đến môi trƣờng của các chính sách, chƣơng trình, hoạt động và của các dự án. Nó góp phần loại trừ cách “đóng cửa ra quyết định” nhƣ trƣớc đây vẫn thƣờng làm, không tính đến ảnh hƣởng môi trƣờng trong các khu vực công cộng và tƣ nhân. (2) ĐTM tạo ra cơ hội để có thể trình bày với ngƣời ra quyết định về tính phù hợp của chính sách, chƣơng trình, hoạt động, dự án về mặt môi trƣờng, nhằm ra quyết định có tiếp tục thực hiện hay không.
(3) Đối với các chƣơng trình, chính sách, hoạt động, dự án đƣợc chấp nhận thực hiện thì ĐTM tạo ra cơ hội trình bày sự phối kết hợp các điều kiện có thể giảm nhẹ tác động có hại tới môi trƣờng. (4) ĐTM tạo ra phƣơng thức để cộng đồng có thể đóng góp cho quá trình ra quyết định thông qua các đề nghị bằng văn bản hoặc ý kiến gửi tới ngƣời ra quyết định. Công chúng có thể tham gia vào quá trình này trong các cuộc họp công khai hoặc trong việc hòa giải giữa các bên (thƣờng là bên gây tác động và bên chịu tác động). (5) Với ĐTM, toàn bộ quá trình phát triển đƣợc công khai để xem xét một cách đồng thời lợi ích của tất cả các bên: bên đề xuất dự án, Chính phủ và cộng đồng.
Điều đó góp phần lựa chọn đƣợc dự án tốt hơn để thực hiện. (6) Những dự án mà về cơ bản không đạt yêu cầu hoặc đặt sai vị trí thì có xu hƣớng tự loại trừ, không phải thực hiện ĐTM và tất nhiên là không cần cả đến sự chất vấn của công chúng. 7 (7) Thông qua ĐTM, nhiều dự án đƣợc chấp nhận nhƣng phải thực hiện những điều kiện nhất định, chẳng hạn chủ dự án phải đảm bảo quá trình đo đạc, giám sát, lập báo cáo hàng năm, phải có phân tích sau dự án và kiểm toán độc lập. (8) Trong ĐTM phải xét cả đến các khả năng thay thế, chẳng hạn nhƣ công nghệ, địa điểm đặt dự án phải đƣợc xem xét hết sức cẩn thận.
(9) ĐTM đƣợc coi là công cụ phục vụ phát triển, khuyến khích phát triển tốt hơn, trợ giúp cho tăng trƣởng kinh tế. (10) Trong nhiều trƣờng hợp, ĐTM chấp nhận sự phát thải, kể cả phát thải khí nhà kính cũng nhƣ việc sử dụng không hợp lý tài nguyên ở mức độ nào đấy, nghĩa là chấp nhận vì sự phát triển và tăng trƣởng kinh tế.