Lời mở đầu cho đến tất cả các điều khoản của UDHR. Điều 2 Tuyên ngôn với nội dung: ―Ai cũng được hưởng những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn 13 này không phân biệt đối xử vì bất cứ lý do nào, như chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác‖ thể hiện một tinh thần cởi mở khi không chỉ mở rộng các yếu tố nhân thân so với Hiến chương mà còn sử dụng thuận ngữ ―thân trạng khác‖ như một sự để mở với các yếu tố khác khi xã hội thay đổi. Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc năm 1948, mặc dù không có giá trị ràng buộc pháp lý nhưng sau đó đã được cụ thể hóa bằng hai công ước quan trọng khác về nhân quyền có giá trị ràng buộc pháp lý trong Bộ luật Quốc tế về Nhân quyền là ICCPR và ICESCR. Hai Công ước quan trọng này đều nhắc lại và cụ thể hóa các nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử.
Tại thời điểm ban hành, xu hướng tính dục và bản dạng giới chưa được liệt kê một cách rõ ràng như một căn cứ phân biệt đối xử bị cấm nhưng năm 1994, trong vụ Nicholas Toonen kiện Australia, Ủy ban Nhân quyền tuyên bố: ―việc đề cập đến “giới tính” tại Điều 2, đoạn 1 và Điều 26 ICCPR được hiểu là bao gồm cả xu hướng tính dục‖.16 Trong Bình luận chung số 20, đoạn 32, Ủy ban về Các quyền Kinh tế, Văn hóa và Xã hội Liên Hợp Quốc khẳng định rằng sự đảm bảo không phân biệt đối xử trong ICESCR đã bao gồm xu hướng tính dục: ―bất cứ thân trạng nào khác" (“other status”) được ghi nhận trong Điều 2, khoản 2, bao gồm các xu hướng tính dục. Các quốc gia phải đảm bảo rằng xu hướng tính dục của một người không phải là một rào cản đối với việc thực hiện quyền ghi nhận trong Công ước (…) Ngoài ra, bản dạng giới được công nhận là một trong những căn cứ phân biệt đối xử bị cấm; ví dụ, những người là người chuyển giới, chuyển đổi giới tính hoặc liên giới tính thường xuyên phải đối mặt với hành vi vi phạm nhân quyền nghiêm trọng, chẳng hạn như sự quấy rối trong trường học hoặc tại nơi làm việc”. Như vậy, có thể khẳng định một người dù mang giới tính sinh học, xu hướng tính dục hay bản dạng giới khác biệt cũng vẫn là đối tượng cần được bảo vệ, được hưởng các quyền tự do trong bản Tuyên ngôn này, bao gồm quyền kết hôn và các quyền liên quan. 16 Nicholas Toonen kiện Australia, Uỷ ban Nhân quyền, Vụ kiện số 488/1992, Văn bản LHQ.7 14 Việt Nam đã ký và phê chuẩn cả 2 Công ước quan trọng này vào năm 1982.
Khi gia nhập vào những công ước này, các quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng, đảm bảo và thúc đẩy các quyền trên thông qua các chính sách, pháp luật và thực thi của quốc gia mình. Thực hiện nghĩa vụ của mình, Việt Nam đã ghi nhận nguyên tắc không phân biệt đối xử và bình đẳng trước pháp luật. Điều 16 Hiến pháp của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (―Hiến pháp 2013‖) ghi rõ: ―Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa xã hội‖.
Ngoài ra, pháp luật hiện hành cũng không có bất cứ quy định cụ thể nào về quyền cũng như hạn chế quyền áp dụng riêng đối với đa dạng giới và tính dục tại Việt Nam. Như vậy, nhà nước và pháp luật Việt Nam không giới hạn các quyền cơ bản của người LGBTI. Xét cả quá trình lịch sử, xu hướng tính dục và bản dạng giới không được quan tâm mấy trong luật pháp và chính sách của Việt Nam17. Cuộc vận động xã hội dân sự trong thập niên vừa qua đã mang lại những thành quả đầy ý nghĩa về sự xuất hiện công khai và những kết quả về quyền của người LGBT18.
Trong những năm gần đây, chính quyền Việt Nam đã thực hiện những bước tiến đáng kể trong việc công nhận quyền của người LGBT. Trong đợt Đánh giá Định kỳ Toàn cầu (UPR) năm 2014 tại Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc, chính phủ Việt Nam đã chấp thuận một khuyến nghị của Hội đồng về xu hướng tính dục và bản dạng giới: ―Xây dựng luật chống kỳ thị để đảm bảo bình đẳng cho mọi người dân, bất kể xu hướng tính dục và bản dạng giới của họ‖19. 17 Jacob Aronson, “Homosex in Hanoi? Sex, The Public Sphere, and Public Sex”, (Tình dục đồng giới ở Hà Nội? Tình dục, Không gian Công cộng và Tình dục Công cộng”) trong William L., Public Sex/Gay Space (New York: Columbia University Press, 1999), tr. 18 Viện Nghiên cứu Phát triển, “Negotiating Public and Legal Spaces: The Emergence of an LGBT Movement in Vietnam,” (Thương lượng về Không gian Công cộng và Không gian Pháp lý: Sự trỗi dậy của phong trào LGBT ở Việt Nam) 2014, https://www.uk/publications/negotiating-public-and-legal-spaces- the-emergence-of-an-lgbt-movement-in-vietnam (truy cập ngày 20/05/2020).
19 Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc, Đánh giá Định kỳ Toàn cầu – Việt Nam, Kỳ 2, 2014, Khuyến nghị 143.88 15 Năm 2016, khi đang giữ ghế Hội đồng Nhân quyền LHQ, Việt Nam bỏ phiếu thuận cho nghị quyết về bảo vệ chống bạo hành và kỳ thị có nguyên nhân từ xu hướng tính dục và bản dạng giới (SOGI). Phái đoàn Việt Nam có đưa ra tường trình về việc ủng hộ nghị quyết trước khi bỏ phiếu, nói rằng: ―Lý do Việt Nam bỏ phiếu thuận có căn cứ từ các thay đổi về chính sách cả trong nước lẫn trên thế giới về quyền của người LGBT‖ và ―Việt Nam hoan nghênh sáng kiến và các nỗ lực của cộng đồng quốc tế nhằm phòng chống bạo hành và kỳ thị do xu hướng tính dục và bản dạng giới‖20. Trong đợt UPR năm 2019, Việt Nam từ chối các khuyến nghị về việc phải bao gồm cả xu hướng tính dục và bản dạng giới trong Bộ luật Lao động và hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới. Tuy nhiên, chính phủ Việt Nam đã chấp thuận các khuyến nghị: (1) Khuyến nghị 38.109: ―Xây dựng quy phạm pháp luật chống phân biệt đối xử trên cơ sở xu hướng tính dục và bản dạng giới‖.97: ―Thực hiện các bước tiếp theo để bảo đảm cơ chế bảo vệ cho các nhóm dễ bị tổn thương trong xã hội, trong đó có những người đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính, chuyển giới và liên giới‖.93: ―Thực thi các quy phạm pháp luật nhằm đảm bảo khả năng tiếp cận dịch vụ y tế về điều chỉnh giới tính và công nhận pháp lý về giới tính‖.
Tháng 9/2019, Thủ tướng đã ban hành Quyến định 1252/3019/QĐ-TTg Phê duyệt kế hạch tăng cường thực thi hiệu quả Công ước Quốc tế về Các quyền Dân sự và Chính trị và các khuyến nghị của Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc hướng dẫn cụ thể các cơ quan trong nước thực hiện các khuyến nghị của UPR đối với Việt Nam. Đối với nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu của kế hoạch có đề cập đến: 20 Arc International, “The Asian Yes Vote”, (Phiếu thuận của các nước Châu Á) http://arc- international.net/global-advocacy/human-rights-council/32nd-session-of-the-human-rights- council/appointing-an-independent-expert-on-sexual-orientation-and-gender-identity-an-analysis-of-process- results-and-implications/iv-understanding-the-political-why-did-states-vote-the-way-they-did/the-asian-yes- vote (truy cập ngày 20/05/2020). Tiếp tục nâng cao hiệu quả thực thi các quy định pháp luật về quyền dân sự và chính trị a) Ban hành và thực hiện các kế hoạch, chương trình hành động quốc gia để xóa bỏ định kiến, phân biệt đối xử đối với phụ nữ (nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong mọi lĩnh vực và xóa bỏ bạo lực giới) và các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, trong đó lưu ý nhóm người khuyết tật, trẻ em, người dân tộc thiểu số, cộng đồng người Đồng tính - song tính - chuyển giới - liên giới (LGBTI), người nhiễm HIV/AIDS. Như vậy, pháp luật Việt Nam cũng nhìn nhận LGBTI như một nhóm yếu thế và đang dần có những triển khai trong việc xây dựng các chính sách đảm bảo, thúc đẩy quyền, xóa bỏ định kiến, phân biệt đối xử với họ.
Lý luận chung về hôn nhân trong pháp luật Việt Nam 1. Hôn nhân trong pháp luật Việt Nam Trong thực tiễn khoa học Luật Hôn nhân và Gia đình ở Việt Nam và nước ngoài, các nhà làm luật và nhà nghiên cứu luật đã đưa ra nhiều khái niệm hôn nhân khác nhau. Ở các nước theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ (Common law), khái niệm hôn nhân phổ biến mang quan niệm truyền thống về hôn nhân của Cơ đốc giáo do Lord Penzance đưa ra trong phán quyết về vụ án Hyde v Hyde (1866): ―Hôn nhân là sự liên kết tự nguyện suốt đời giữa một người đàn ông và một người đàn bà, mà không vì mục đích nào khác‖21. Ngoài khái niệm trên, hiện nay, một số luật gia ở Châu âu và Mỹ quan niệm: ―Hôn nhân là sự liên kết pháp lý giữa một người nam và một người nữ với tư cách là vợ chồng‖22, hoặc: ―Hôn nhân là hành vi hoặc tình trạng chung sống giữa một người nam và một người nữ với tư cách là vợ chồng‖23.
Tại Việt Nam, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 qui định: ―Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn‖. Có thể thấy pháp luật hầu hết nhìn 21 P. Family law Dictionary. 23 Dictionary of law – Third edition.
Petter collin publishing. 2000 17 nhận ―hôn nhân‖ là ―quan hệ pháp lý‖ giữa những người đã đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, các cuộc hôn nhân này cần đảm bảo đúng mục đích, nguyên tắc của hôn nhân và không vi phạm vào các trường hợp cấm mà pháp luật quy định. Có nhiều quan điểm khác nhau về ―mục đích của hôn nhân‖.
Pháp luật không định nghĩa trực tiếp tuy nhiên có thể rút ra được khái niệm dựa trên dựa trên định nghĩa “mục đích của hôn nhân không thể đạt được” với các yếu tố được chỉ ra là (1) không có tình nghĩa vợ chồng, (2) không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng, (3) không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt. Các tiêu chí này đều xoay quanh sự bình đẳng, tôn trọng và tình nghĩa giữa vợ chồng. Như vậy có thể thấy, mục đích chính của hôn nhân là tạo ra một quan hệ pháp lý phù hợp giúp cho hai người có thể chung sống hạnh phúc, bình đẳng, dân chủ, bền vững suốt đời.