Đặt vấn đề Rừng tự nhiên là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của cả nước. Nó không chỉ góp phần đáp ứng nhu cầu về gỗ và các loại lâm đặc sản khác mà còn có tác dụng phòng hộ, điều hoà không khí, bảo vệ môi trường, điều hòa dòng chảy hạn chế tối đa tình trạng xói mòn và rửa trôi. Rừng có được những chức năng đó là nhờ có đa dạng sinh học (ĐDSH). Thuật ngữ ĐDSH được dùng để chỉ sự phong phú và đa dạng của giới sinh vật từ mọi nguồn trên trái đất, nó bao gồm sự đa dạng trong cùng một loài, giữa các loài và sự đa dạng hệ sinh thái (Hồ Ngọc Sơn, 2004) [9].
Đây cũng là nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc thiểu số với nguồn lợi sinh kế phụ thuộc trực tiếp vào tài nguyên thiên nhiên trong đó chủ yếu là tài nguyên rừng và đất rừng. Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế làm cho quá trình đô thị hóa ngày càng phát triển, nhu cầu về gỗ nguyên liệu phục vụ cho ngành nguyên liệu giấy ngày càng tăng. Vì vậy, nhu cầu về sử dụng lâm sản ngày càng nhiều, để đáp ứng nhu cầu của người dân trong việc xây dựng nhà và các công trình dân dụng làm cho chất lượng rừng tự nhiên ngày càng bị giảm sút. Nguyên nhân dẫn đến diện tích rừng giàu ngày càng cạn kiệt là do nạn khai thác trái phép một cách bừa bãi, không có quy hoạch vùng khai thác và bảo vệ.
Mặt khác, nhu cầu sử dụng đất của người dân ngày càng tăng, để có đất sản xuất người dân đã trực tiếp phá rừng tự nhiên, các khu rừng đang phục hồi để có đất trồng trọt. Bên cạnh đó, diện tích rừng và đất lâm nghiệp phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế lâm nghiệp chưa được đánh giá một cách đúng mức để có hướng quy hoạch sử dụng hợp lý. Việt Nam được coi là một trong những trung tâm về đa dạng sinh học của khu vực cũng như của thế giới. Song cùng với những tác động tiêu cực của con người dân đặc biệt là cộng đồng các dân tộc thiểu số,vùng cao đã làm cho tài nguyên rừng ở Việt Nam bị suy thoái nghiêm trọng kéo theo đó là nhiều loài động thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng cao và đang rất cần được bảo vệ.
Chính vì vậy mà các Khu bảo tồn thiên nhiên và các Vườn 2 quốc gia được thành lập nhằm bảo vệ đa dạng sinh học. Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) là vùng đất hay vùng biển đặc biệt được dành để bảo vệ và duy trì tính đa dạng sinh học, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, kết hợp với việc bảo vệ các tài nguyên văn hoá và được quản lí bằng pháp luật hoặc các phương thức hữu hiệu khác.Theo nghĩa hẹp, khu bảo tồn thiên nhiên còn gọi là khu dự trữ tự nhiên và khu bảo tồn loài và sinh cảnh, là vùng đất tự nhiên được thành lập nhằm mục đích đảm bảo diễn thế tự nhiên. Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân lạc được thành lập theo Quyết định số 342/QĐ-UB ngày 17/3/2004 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn với diện tích là 1. Khu bảo tồn nằm trên địa bàn 03 xã Đồng Lạc, Xuân Lạc và Bản Thi, vùng lõi gồm địa phận của 8 thôn, có 7 hộ sinh sống trong vùng lõi với 36 nhân khẩu.
Về tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học: có khoảng 373 loài động vật, trong đó có 20 loài quý hiếm, hệ thực vật khá phong phú gồm 515 loài thực vật bậc cao, trong đó có 30 loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam. Có những loài tưởng như đã tuyệt chủng trong vòng 25 năm qua như vạc hoa lại được phát hiện xuất hiện tại khu bảo tồn này. Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc đã có người dân sinh sống trong vùng lõi từ trước khi thành lập. Đời sống các hộ dân trong khu vực còn nhiều khó khăn, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, tỷ lệ hộ nghèo cao, nhận thức và điều kiện canh tác còn lạc hậu, diện tích canh tác ít, thậm chí không có đất ruộng để canh tác nên phụ thuộc nhiều vào việc khai thác khoáng sản, lâm sản và săn bắt động vật hoang dã.
Trong thời gian qua người dân đã có những tác động không nhỏ đến tài nguyên rừng của Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc. Xuất phát từ thực tiễn trên tôi tiến hành thực hiện chuyên đề: “Đánh giá tác động của người dân xã Bản Thi tới tài nguyên rừng và đề xuất các biện pháp bảo tồn tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc - Huyện Chợ Đồn - Tỉnh Bắc Kạn”. Mục đích nghiên cứu Đánh giá những tác động của người dân xã Bản Thi đến tài nguyên rừng tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc - huyện Chợ Đồn - tỉnh 3 Bắc Kạn từ đó đề xuất các biện pháp nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực và phát huy các tác động tích cực của người dân đến tài nguyên rừng. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được những tác động tích cực của người dân tới tài nguyên rừng của khu bảo tồn.
- Đánh giá được những tác động tiêu cực của người dân tới tài nguyên rừng của khu bảo tồn. - Đề xuất biện pháp nhằm làm giảm thiểu tác động tiêu cực và phát huy những tác động tích cực của người dân tới tài nguyên rừng. Ý nghĩa của đề tài 1. Trong học tập và nghiên cứu khoa học - Được thực tập kỹ năng giao tiếp, điều tra phỏng vấn người dân, kỹ năng tổng hợp số liệu qua các đợt thực tập nghề nghiệp.
- Là cơ sở để củng cố những kiến thức đã học trong nhà trường vào hoạt động thực tiễn. - Tạo cơ hội cho sinh viên làm quen với nghiên cứu khoa học, áp dụng những kiến thức học được trong thực tiễn sản xuất và nghiên cứu khoa học. Trong thực tiễn sản xuất - Đánh giá được thực trạng Quản lý bảo vệ rừng và tình hình sử dụng tài nguyên thiên nhiên tại khu vực nghiên cứu. Biết được tác động của người dân tới tài nguyên rừng từ đó đưa ra các biện pháp bảo tồn tránh sự suy giảm đa dạng sinh học.
- Đưa ra các biện pháp giúp người dân sống trong rừng, gần rừng và phụ thuộc vào rừng cải thiện sinh kế, giảm thiểu những tác động tiêu cực đến tài nguyên rừng. 4 Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng phong phú. Rừng có ý nghĩa to lớn về mặt sinh thái, lịch sử, kinh tế, văn hóa.
Để duy trì và phát triển nguồn tài nguyên này con người cần không ngừng nỗ lực để bảo vệ phát triển rừng, con người và rừng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình phát triển. Đặc biệt sự tác động của con người có ý nghĩa to lớn quyết định tới rừng. Để đánh giá đúng đắn vấn đề, người ta đã tiến hành nhiều cuộc nghiên cứu điều tra trên nhiều góc độ về sự ảnh hưởng của con người tới các khu rừng ở nhiều nơi trên thế giới. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 2.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới Theo đánh giá tài nguyên rừng do FAO thực hiện (FRA) diện tích rừng thế giới hiện nay có khoảng gần 4 tỷ hecta, chiếm 30% tổng diện tích đất trên hành tinh. Tuy nhiên, diện tích rừng đang tiếp tục suy giảm nghiêm trọng với diện tích rừng bị mất, trong thời kỳ 2006-2010, trung bình một năm là 13 triệu ha (FAO). Bên diện tích bị mất, rừng thế giới cũng đang đối mặt với những thách thức khác bao gồm đa dạng sinh học trở nên nghèo nàn, năng suất rừng thấp hơn, khả năng thực hiện chức năng phòng hộ và đóng góp vào phát triển kinh tế , xã hội kém hơn. Do vậy, bảo vệ và phát triển rừng cho hiện tại và các thế hệ tương lai thông qua tìm kiếm và áp dụng các giải pháp nhằm quản lý rừng bền vững, trong đó có chứng chỉ rừng, luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu của tất cả các tổ chức Chính phủ và phi Chính Phủ trên toàn thế giới.
Để bảo vệ diện tích và chất lượng của rừng con người đã chú trọng ngày càng nhiều tới việc quản lý rừng bền vững. Nỗ lực đầu tiên về quản lý rừng bền vững, gắn liền với chứng chỉ, được thực hiện là thành lập Hệ thống Rừng Trang trại Hoa kỳ (American tree Farm System - ATFS) năm 1941, tiếp đó là Hội đồng Quản trị Rừng (Forest Stewardship Council - FSC) năm 1993, Lembaga Ekolabel Indonesia (LEI) Forest Certification Schemes - PEFC) năm 1999 và Hệ thống chứng chỉ gỗ Malaysia MTCS (Malaysian Timber Certification Scheme - MTCS) năm 2001. Cho đến 5 cuối năm 2011, tổng diện tích rừng được quản lý bền vững, được cấp chứng chỉ theo các bộ tiêu chuẩn khác nhau là 401.552 ha, tương đương 10% tổng diện tích rừng toàn cầu [16]. Nghiên cứu của Liên hợp quốc (LHQ) công bố ngày 05/10/2010 được coi là đánh giá toàn diện nhất về hiện trạng rừng trên thế giới.
Trong thời gian từ năm 2000-2010, mỗi năm diện tích rừng bị chuyển đổi thành diện tích đất nông nghiệp và các mục đích sử dụng khác, hoặc bị mất do các nguyên nhân tự nhiên đã giảm từ 16 triệu hecta trong những năm 90 của thế kỷ trước xuống còn 13 triệu hecta. Diện tích rừng nguyên thuỷ toàn cầu với các hệ sinh thái đa dạng và phong phú nhất về các loài sinh vật, với khoảng 1,4 tỷ hecta, chiếm 36% tổng diện tích rừng toàn cầu, cũng giảm trung bình hàng năm hơn 40 triệu hecta, với tốc độ 0,4% mỗi năm. Khu vực Nam Mỹ bị mất rừng nguyên thuỷ lớn nhất, sau đó là châu Phi và châu Á. Nghiên cứu trên chỉ rõ các mối đe doạ khác đối với đa dạng sinh học rừng là do việc quản lý rừng không bền vững, biến đổi khí hậu, cháy rừng, thảm hoạ tự nhiên, dịch bệnh và do sự phá hoại của các loài côn trùng và các sinh vật xâm thực.
LHQ còn cảnh báo hiện trạng săn bắn vì mục tiêu thương mại do nhu cầu tiêu dùng ở các thành phố cũng đang đẩy nhiều loài vật hoang dã tới nguy cơ tuyệt chủng trong tương lai. Tình trạng này sẽ trở nên tồi tệ hơn nếu các nước không thực hiện những biện pháp hiệu quả để ngăn chặn.