Chương I, Nghị định 99/QĐ-TTg ngày 24/09/2010 của Thủ tướng Chính phủ. Sự sẵn lòng chi trả Sự sẵn lòng chi trả (willingness to pay) là thước đo độ thỏa mãn, đồng thời là thước đo lợi ích và là đường cầu thị trường, tạo nên cơ sở xác định lợi h 8 ích đối với xã hội từ việc tiêu thụ hoặc bán một mặt hàng cụ thể. Nền tảng của PES chính là việc những người cung cấp dịch vụ môi trường sẽ nhận được một khoản tiền cho việc họ chấp nhận bảo vệ môi trường (tính điều kiện) và mức chi trả này phụ thuộc vào sự thỏa thuận với bên nhận được lợi ích từ các lợi ích từ môi trường. Nhà kinh tế học Ronald Coase cũng đưa ra quan điểm rằng, cơ sở của chi trả dịch vụ môi trường là dựa trên sự thỏa thuận lợi ích giữa hai bên thông qua việc mặc cả để đưa ra một mức giá hợp lý Mức chi trả này đã được đề cập đến khá nhiều trong các nghiên cứu về PES.
Một cách khác để hiểu về mức sẵn lòng chi trả được đưa ra trong một nghiên cứu của Pagiola [2003] (Hình 2. Trong mô hình này, có thể thấy: nguồn thu nhập từ việc chặt phá rừng và sử dụng các cánh rừng đầu nguồn là lợi ích của những người chủ rừng, nhưng lại là chi phí của những nhà máy thủy điện và cư dân ở vùng hạ lưu. Phần màu xanh nhạt biểu diễn cho phần lợi ích của người chủ rừng như khai thác gỗ, buôn bán động vật hoang dã… Ngược lại, phần diện tích màu đỏ cho thấy chi phí hay thiệt hại của các nhà máy thủy điện khi rừng bị chặt phá. Phần chi trả ở đây được thể hiện bằng màu xanh lá cây.1 Mô hình xác định mức chi trả dịch vụ môi trường Nguồn: [Pagiola, 2003].
h 9 Tóm lại, mức chi trả sẽ được xác định dựa trên cơ sở: Thu nhập của chủ rừng < Mức chi trả dịch vụ môi trường rừng < Mức lợi ích nhà máy thủy điện nhận được từ dịch vụ môi trường rừng. Sinh kế Có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về sinh kế, tuy nhiên đa phần các ý kiến cho rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân hay hộ gia đình. Về căn bản, các hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân hay nông hộ tự quyết định dựa vào năng lực và khả năng của họ, đồng thời chịu sự tác động của các thể chế, chính sách và những quan hệ xã hội mà cá nhân hoặc hộ gia đình đã thiết lập trong cộng đồng. Trong nhiều nghiên cứu của Frank Ellischo rằng một sinh kế bao gồm những tài sản (tự nhiên, phương tiện vật chất, con người, tài chính và nguồn vốn xã hội), những hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến các tài sản và hoạt động đó (đạt được thông qua các thể chế và quan hệ xã hội), mà theo đó các quyết định về sinh kế đều thuộc về mỗi cá nhân hoặc mỗi nông hộ.
Theo Ủy ban Phát triển Quốc tế, sinh kế được hiểu là tập hợp tất cả các nguồn lực (vốn con người; vốn vật chất; vốn tự nhiên; vốn tài chính và vốn xã hội) và khả năng mà con người có được, kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ. Trong khuôn khổ của đề tài này tác giả sẽ vận dụng khái niệm sinh kế của DFID để phân tích những thay đổi các nguồn lực sinh kế dưới tác động của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại cộng đồng sinh sống ở xã Mường Nhé. Khung sinh kế bền vững Khung sinh kế là một công cụ được xây dựng nhằm xem xét một cách toàn diện tất cả các yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sinh kế của cộng đồng. Mặc dù có rất nhiều tổ chức khác nhau sử dụng khung phân tích sinh kế và mỗi tổ chức có mức độ vận dụng khác nhau, nhưng nhìn chung, Khung sinh kế bền vững có những thành phần cơ bản giống nhau (xem Hình 2.
Nguồn vốn hay tài sản sinh kế là toàn bộ năng lực vật chất và phi vật chất mà con người có thể sử dụng để duy trì hay phát triển sinh kế của họ. Nguồn vốn hay tài sản sinh kế được chia làm 5 loại vốn chính: vốn nhân lực, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính và vốn xã hội (Hình 2. Khung sinh kế bền vững của DFID Nguồn: [DFID, 2001]. Vốn nhân lực (human capital): Vốn nhân lực là khả năng, kỹ năng, kiến thức làm việc và sức khỏe, giúp theo đuổi những chiến lược sinh kế khác nhau, nhằm đạt được kết quả sinh kế hay mục tiêu sinh kế của họ.
Vốn nhân lực là điều kiện cần để có thể sử dụng và phát huy hiệu quả bốn loại vốn khác. Vốn tự nhiên (natural capital): Vốn tự nhiên là các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất, nước… mà cộng đồng có được hay có thể tiếp cận được, nhằm phục vụ cho các hoạt động và mục tiêu sinh kế của cộng đồng. Ở h 11 nghiên cứu này, vốn tự nhiên là quy mô và chất lượng tài nguyên rừng được đánh giá cụ thể qua việc hạn chế cháy rừng, tăng diện tích và chất lượng rừng, nâng cao các dịch vụ rừng, nâng cao giá trị đa dạng sinh học và từ đó có thể nâng cao mức sinh kế cho cộng đồng tại địa phương. Vốn vật chất (physical capital): Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng và hàng hóa vật chất nhằm hỗ trợ việc thực hiện các hoạt động sinh kế.
Nguồn vốn vật chất thể hiện ở cả cấp cơ sở cộng đồng. Vốn tài chính (financial capital): Vốn tài chính bao gồm nguồn dự trữ hiện tại, dòng tiền theo định kỳ và khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng từ bên ngoài, như từ người thân hay từ các tổ chức tín dụng khác nhau. Đánh giá này coi nguồn vốn tài chính là khoản tiền được trợ cấp cho cộng đồng, quỹ bảo vệ và phát triển rừng chi trả cho cộng đồng cung ứng các dịch vụ môi trường, nhằm hỗ trợ cho cộng đồng cải thiện sinh kế, hỗ trợ các hộ nghèo tăng thêm thu nhập và phát triển DVMTR Vốn xã hội (social capital): Vốn xã hội là một loại tài sản sinh kế, nó nằm trong các mối quan hệ xã hội (hoặc các nguồn lực xã hội) chính thể và phi chính thể mà qua đó, người dân có thể tạo ra cơ hội và thu được lợi ích trong quá trình thực thi sinh kế. Ở nghiên cứu này, nguồn vốn xã hội được thể hiện qua mối quan hệ giữa chính sách và thực hiện chính sách (thông qua việc các cơ quan thực hiện chính sách đào tạo tập huấn cho cộng đồng địa phương), mối quan hệ giữa cộng đồng với cơ quan thực hiện chính sách, các cơ hội được tiếp cận với các nguồn vốn trợ cấp của các quỹ PFES.
Thành phần quan trọng của Khung sinh kế là kết quả của sinh kế (livelihood outcomes). Kết quả sinh kế là cải thiện phúc lợi của con người hay cộng đồng, nhưng có sự đa dạng về trọng tâm và sự ưu tiên, cải thiện về mặt vật chất, tinh thần của con người như xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập hay sử dụng bền vững và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên h 12 2.2 Những nghiên cứu trên thế giới 2. Một số nghiên cứu về chi trả dịch vụ môi trường rừng trên thế giới Trên thế giới cũng đã dần xuất hiện những báo cáo về đánh giá hiệu quả và tác động của dịch vụ môi trường hay dịch vụ môi trường rừng đến sinh kế của cộng đồng dân cư tại các điểm thực hiện DVMTR và đã bước đầu có những nhận định sâu hơn, như nhận định ban đầu của Landell-Mills và Porras (2002) cho rằng, “DVMTR là một phương thức tiếp cận có khả năng làm giảm sự suy thoái môi trường và giảm nghèo tại vùng nông thôn” [Landell- Mills and Porras, 2002]. Các nhận định này sau đó hai năm đã được các tác giả khác phân tích và đánh giả cụ thể hơn và chỉ đồng tình một vế về nâng cao hiệu quả của công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên, chứ không thực sự là một cơ chế để giảm nghèo.
[Pagiola và cộng sự. Ý kiến khác đã bổ sung và nhấn mạnh, không chỉ người nghèo, mà cả những người cung cấp dịch vụ môi trường cũng có thể không tham gia được vào chương trình này, do quyền sở hữu đất không đảm bảo, hoặc khoảng đất rừng của họ quá nhỏ, hoặc thiếu tiếp cận tín dụng để đầu tư vào các hoạt động như trồng rừng [Grieg-Gran et al. Như vậy, qua các kết quả nghiên cứu trên cho thấy, chương trình DVMTR đã thực sự tác động làm giảm khả năng suy thoái môi trường, nhưng chưa thực sự tác động đến sinh kế và làm giảm đói nghèo cho cộng đồng. Các mô hình sử dụng chi trả dịch vụ môi trường rừng Trên thế giới hiện nay, có rất nhiều mô hình sử dụng chi trả dịch vụ môi trường (PES) và chi trả DVMTR theo các hình thức khác nhau, nhưng phần lớn đều ở tầm vĩ mô của các quốc gia.
Các nước phát triển và khu vực Mỹ La Tinh đã sử dụng các mô hình PES vào việc bảo tồn đa dạng sinh học và xóa đói giảm nghèo cho người dân vùng đầu nguồn. Cũng mô hình thực hiện PES nhưng tại Côtxta Rica lại là một hình thức khác, ở đó, PES là cơ chế để bảo vệ lưu vực của một số khách sạn tham h 13 gia. Cơ sở của việc chi trả này là nhận thức về mối tương quan chặt chẽ giữa các dịch vụ cung cấp môi trường nước do bảo vệ lưu vực và người hưởng là ngành du lịch. Lý do là các hoạt động ngành du lịch phụ thuộc rất lớn vào trữ lượng và chất lượng nước.
Vì vậy, từ năm 2005, một số khách sạn chi trả hàng năm 45,5 đô la Mỹ cho mỗi hecta đất của các chủ đất địa phương và trả 7% trong tổng số chi phí hành chính của mô hình chi trả dịch vụ môi trường. Tuy nhiên, Côtxta Rica vẫn chưa có một cơ chế được thừa nhận chung nào dựa vào lợi ích của mọi người được chi trả trực tiếp từ các dịch vụ và bảo tồn đa dạng sinh học của tài nguyên rừng đến cải thiện sinh kế cho những người trực tiếp bảo vệ rừng. Tại Trung Mỹ và Mêhicô có chương trình PES lớn nhất Mỹ La Tinh về dịch vụ môi trường thủy văn.