Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm, tiêu chí và phương pháp đánh giá 1. Dinh dưỡng “Dinh dưỡng là tình trạng cơ thể được cung cấp đầy đủ, cân đối các thành phần dinh dưỡng, đảm bảo cho sự phát triển toàn vẹn, tăng trưởng của cơ thể để đảm bảo chức năng sinh lý và tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội”(12). Suy dinh dưỡng “Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lượng và chi chất dinh dưỡng (VCDD). Bệnh hay gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, biểu hiện dưới nhiều mức độ khác nhau nhưng ít nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất tinh thần và vận động của trẻ”(12).
Suy dinh dưỡng thấp còi “Suy dinh dưỡng thấp còi là một dạng SDD mãn tính được thể hiện bởi tình trạng trẻ có chiều cao theo tuổi, cùng giới thấp hơn 2 độ lệch chuẩn SD so với chiều cao của quần thể tham chiếu của WHO”. Khẩu phần “Khẩu phần là tiêu chuẩn ăn của 1 người trong 1 ngày nhằm đáp ứng nhu cầu về năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể”. Phân loại và phương pháp đánh giá suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi Hiện nay, WHO khuyến cáo để xác định tình trạng SDD của trẻ dưới 5 tuổi chủ yếu dựa trên 2 chỉ số nhân trắc chiều cao và cân nặng của trẻ. Trong đó, tình trạng SDDTC trẻ em chủ yếu dựa vào chỉ tiêu: Chiều cao theo tuổi (CC/T).
Cụ thể là, chiều cao của trẻ được so sánh với trẻ cùng tuổi, cùng giới so với quần thể tham chiếu của WHO. Chỉ tiêu chiều cao theo tuổi thấp (dưới -2SD) phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài hoặc SDD trong quá khứ làm đứa trẻ bị SDD thể thấp còi. 5 Tháng 4 năm 2006, WHO đã giới thiệu một quần thể tham chiếu cho trẻ em dưới 5 tuổi và khuyến nghị sử dụng giới hạn từ -2SD đến +2SD để phân loại SDD thể thấp còi trẻ em với cách tính: Chiều cao đo được – Chiều cao TB của quần thể tham khảo Z-score = --------------------------------------------------------------------------------- Một độ lệch chuẩn (SD) của quần thể tham khảo Bảng 1.1: Bảng phân loại tình trạng SDDTC của trẻ dưới 5 tuổi dựa trên độ lệch chuẩn Z-Score CC/T Trên +2SD Từ -2SD đến +2SD Bình thường Từ -3SD đến -2SD SDD thấp còi vừa Dưới -3SD SDD thấp còi nặng 1. Phương pháp đánh giá khẩu phần ăn của trẻ từ 6-23 tháng tuổi Bên cạnh việc xác định các chỉ số nhân trắc về cân nặng, chiều cao, đánh giá KPĂ là một phần quan trọng của đánh giá TTDD nhằm tìm hiểu loại và số lượng thực phẩm mà trẻ tiêu thụ.
Đây là cách quan trọng để đánh giá nhu cầu của ăn uống với sức khỏe, bệnh tật. Có nhiều phương pháp để đánh giá KPĂ như cân đong và hỏi ghi 24h. Với phương pháp cân đong, phương pháp này đem lại độ chính xác cao, nhưng mất nhiều thời gian, chi phí tốn kém và đôi khi làm cản trở tới thói quen ăn uống bình thường của trẻ. Vì vậy, nghiên cứu sử dụng phương pháp hỏi ghi 24h để đánh giá KPĂ của trẻ.
Phương pháp hỏi ghi 24h là phương pháp điều tra thường được dùng để đánh giá mức tiêu thụ lương thực thực phẩm của cá thể trong 24h qua của trẻ từ đó xác định được lượng các chỉ số năng lượng (Kcal), Cabohydrat, Protein, Lipit. Chế độ dinh dưỡng hợp lý sẽ quyết định việc tăng trí lực, dáng vóc của trẻ, đảm bảo trẻ phát triển với tình trạng sức khỏe tốt, tránh các căn bệnh liên quan đến vấn đề dinh dưỡng: thừa cân, béo phì, còi xương, suy dinh dưỡng. Phương pháp này tương đối nhanh, rẻ nhưng đòi hỏi sự hợp tác cao của đối 6 tượng, phụ thuộc nhiều vào trí nhớ của đối tượng được hỏi. Đối tượng kể tỉ mỉ các loại thực phẩm, cách chế biến và ước lượng số lượng của những gì đã ăn 24h trước phỏng vẫn.
Để hỗ trợ cho công tác hỏi ghi cần sử dụng album thực phẩm thông dụng so sánh với thực phẩm đối tượng sử dụng để ước lượng số lượng thực phẩm đối tượng ăn được. Kết quả hỏi ghi 24h thu thập được so sánh và đánh giá dựa theo nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam theo nhóm tuổi và theo giới (Phụ lục 7). Thực trạng suy dinh dưỡng thấp còi trên Thế giới và tại Việt Nam 1. Thực trạng suy dinh dưỡng thấp còi trẻ em trên thế giới Năm 2018, theo ước tính của UNICEF, WHO và WB, trong một phần tư thế kỷ qua, SDDTC ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm đáng kể: năm 1990 là 39,6% giảm còn 21,9% vào năm 2018 (từ 255 triệu trẻ xuống 149 triệu trẻ).
Châu Á và Châu Phi vẫn là hai Châu lục đứng đầu về tỷ lệ SDD, ½ số trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thấp còi nằm ở Châu Á và 1/3 ở Châu Phi. Sự phát triển của nền kinh tế Ấn Độ lại tỷ lệ nghịch với số trẻ em thấp còi, nước này có tỷ lệ SDDTC trẻ em là 38% (46,8 triệu trẻ em), chiếm một phần ba tổng số trẻ em thấp còi trên toàn cầu và cao nhất thế giới (14). SDDTC phân bố không đồng đều trên toàn cầu, 90% trẻ bị SDDTC trên thế giới tập trung ở 36 nước, trong đó có Việt Nam. (15) Tại khu vực Châu Phi, các nghiên cứu hầu hết đều cho thấy tỷ lệ SDDTC của trẻ dưới 5 tuổi rất cao.
Nghiên cứu về TTDD của trẻ em 0-59 tháng ở khu vực nông thôn Ethiopia năm 2014 cho thấy tỷ lệ SDDTC ở mức rất cao là 48,5%(16). Trong khi đó, nghiên cứu về TTDD và thực hành ĂBS ở 164 trẻ em từ 6 đến 24 tháng tuổi sống ở Tây Brazil Amazon thuộc Nam Mỹ thì tỷ lệ SDDTC chỉ có 12%(17). 7 Châu Phi cũng là khu vực duy nhất có số lượng trẻ thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi tăng trong thập kỷ qua từ 50,3 triệu trẻ năm 2000 tăng lên 58.1: Xu hướng SDD thấp còi trẻ dưới 5 tuổi theo khu vực giai đoạn 2000-2018 (2) Đông Nam Á có tỷ lệ SDDTC cao thứ hai trong khu vực Châu Á và SDDTC của trẻ dưới 5 tuổi ở khu vực này cũng có xu hướng giảm tương tự toàn cầu: tỷ lệ SDDTC năm 2000 là 38,4% (21 triệu trẻ) giảm xuống 25% (14,4 triệu trẻ) vào năm 2018(2). Hiện nay, trên toàn cầu tỷ lệ SDDTC trẻ em đang cao hơn rất nhiều so với SDD nhẹ cân và gày còm.
Ở nhiều nước, tỷ lệ trẻ SDD thể nhẹ cân thấp nhưng tỷ lệ trẻ bị thấp còi lại ở mức rất cao(15). Ví dụ, tại Liberia, Malawi, Mozambique, Rwanda, Tanzania và Zambia, tỷ lệ SDDTC cao gấp hơn 2 lần so với SDD nhẹ cân, trong khi tỷ lệ trẻ bị nhẹ cân chưa đến 20% thì tỷ lệ SDDTC trên 40%. Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ SDDTC ở trẻ em nông thôn cao hơn trẻ em thành phố là 1,5 lần. Một nghiên cứu về SDD của trẻ từ 6-24 tháng tại phòng khám trẻ sơ sinh ở bệnh viện Mbaathi Nairobi - thủ đô và thành phố lớn nhất của Kenya 2018 8 cho thấy chỉ có 14,3% trẻ thấp còi, con số này thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ SDDTC ở Châu Phi (30%) (18).
Thực trạng suy dinh dưỡng thấp còi trẻ em tại Việt Nam Tại Việt Nam, trong 5 năm qua tỷ lệ SDDTC ở trẻ dưới 5 tuổi có xu hướng giảm đều so với một số nước trong khu vực, cụ thể giảm từ 26,7% năm 2012 xuống còn 23,8% năm 2017(4). Tuy nhiên, cùng với những thành tựu đã đạt được thì tình trạng SDDTC ở nước ta vẫn còn phải đối mặt với nhiều thách thức. Mặc dù SDD nhẹ cân giảm đáng kể trong thập kỷ qua nhưng SDDTC vẫn còn chiếm 1/4 tổng số trẻ em Việt Nam và cao hơn rất nhiều so với SDD nhẹ cân và gày còm, đặc biệt tỷ lệ này vẫn còn cao ở nông thôn và các dân tộc ít người(15). Nghiên cứu của La Hón năm 2017 về TTDD ở trẻ em từ 6-24 tháng cho thấy tỷ lệ SDD nhẹ cân và gầy còm lần lượt là 13,2%; 7,4%, trong khi đó tỷ lệ thấp còi rất cao (27,2%) (19).
Tỷ lệ này tương tự trong nghiên cứu của Bùi Ngọc Diễm, tỷ lệ nhẹ cân (21,7%) và gầy còm (13,7%) thấp hơn tỷ lệ thấp còi (27,2%) (20). Phân bố SDDTC ở Việt Nam không đồng đều, hiện vẫn còn một khoảng cách lớn giữa thành phố và khu vực nông thôn, đặc biệt là ở các vùng sâu vùng xa. Dân số tăng nhanh cũng làm tăng thêm áp lực cho sự phát triển xã hội và kinh tế. Quá trình phát triển đô thị dẫn đến giảm đất nông nghiệp, giảm diện tích nuôi trồng lương thực, thực phẩm cung cấp cho nhân dân.
Hàng năm, Việt Nam phải đối mặt với thiên tai bão lũ, hạn hán, dẫn đến tăng nguy cơ dịch bệnh nghiêm trọng và mất an ninh lương thực. KPĂ của người dân ở thành thị đã và đang thay đổi đáng kể từ chế độ ăn uống truyền thống sang một chế độ ăn uống nhiều dầu mỡ, tinh bột và các sản phẩm chế biến sẵn trong khi ở nông thôn và những vùng khó khăn, vùng sâu vùng xa, khu vực miền núi vẫn còn một tỷ lệ người dân thiếu đói.2: SDD trẻ em dưới 5 tuổi theo các mức độ và theo vùng sinh thái năm 2018 (4) Số liệu báo cáo năm 2018 cho thấy tỷ lệ SDDTC trẻ em dưới 5 tuổi tại 3 khu vực Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và duyên Hải miền Trung và Tây Nguyên cao hơn hẳn so với các khu vực khác, bên cạnh đó tỷ lệ SDDTC ở nông thôn cũng cao hơn ở thành phố (4). Nghiên cứu của Phan Công Danh năm 2016 cho kết quả tỷ lệ SDDTC rất cao (47,3%) (21). Nghiên cứu của Huỳnh Thị Bích Phượng năm 2018 cũng cho kết quả tương tự tỷ lệ SDDTC rất cao là 42,7%(22).
Trong khi đó nghiên cứu về thực trạng SDD thấp còi ở trẻ 6-24 tháng tuổi tại 2 xã Thanh Miện, Hải Dương 2015 của Nguyễn Thị Vân Anh cho kết quả tỷ lệ SDD thấp còi ở trẻ 6-24 tháng tuổi thấp hơn (21,2%)(23). Hầu hết tỷ lệ SDDTC của trẻ trong nghiên cứu trên nhóm dân tộc thiểu số và miền núi, Tây Nguyên đều cao hơn rất nhiều so với nghiên cứu trên nhóm dân tộc kinh và đồng bằng.2: Tỷ lệ SDDTC trẻ em dưới 5 tuổi theo các mức độ năm 2017 ở một số tỉnh (4) Tỉnh/ Thành phố SDD thể thấp còi Chung Độ I Độ II Hải Dương 20 14.