Chương 1: TỔNG QUAN Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chương 5: THẢO LUẬN NGHIÊN CỨU VÀ KIẾN NGHỊ Kết luận 5 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm sự thỏa mãn của nhân viên Theo Haung, 1999; Ganguli, 1994; Locke, 1976: sự hài lòng trong công việc là sự thể hiện thái độ cá nhân liên quan đến thông tin mà người lao động yêu cầu về nơi làm việc trong một thời gian. Nó đem lại kết quả từ sự cân bằng và tổng kết những điều thích và không thích của người lao động được đúc kết từ kinh nghiệm làm việc của họ.
Ngoài ra sự hài lòng trong công việc của nhân viên liên quan đến bản chất tự nhiên của công việc, lương bổng, sự ổn định, giám sát, chính sách và tình hình thực tế của doanh nghiệp (Ganguli, 1994). Theo Vroom (1967), sự thỏa mãn của nhân viên là sự phản ứng của nhân viên đối với vai trò của họ trong công việc. Sự thỏa mãn của nhân viên cũng có thể được xem như là sự kết hợp từ nhiều yếu tố cảm tính có liên quan đến cách cư xử trong công việc. Nếu một nhân viên nhận thức được giá trị của họ trong công việc, nhân viên đó sẽ có những thái độ tích cực đối với công việc và đạt được sự hài lòng trong công việc (Mc Cormic và Tiffin, 1974).
Tương tự như vậy, Locke và Lathan (1990) đã đưa ra một định nghĩa toàn diện về sự thỏa mãn của nhân viên – là trạng thái cảm xúc mang tính tích cực hoặc làm vừa lòng, có được từ kết quả của đánh giá công việc của nhân viên. Khi nhân viên nhận thức được công việc của họ sẽ tạo ra các kết quả quan trọng thì họ sẽ cảm thấy thỏa mãn, như vậy mức độ thỏa mãn tùy thuộc vào mức độ tạo ra được các kết quả quan trọng đó. Robbins et al (2003) đã định nghĩa sự thỏa mãn của nhân viên là khoảng cách khác nhau giữa những gì mà nhân viên nhận được so với những gì mà họ tin là họ sẽ nhận được. Như vậy, khoảng cách này càng lớn thì sự thỏa mãn của nhân viên càng thấp.
Đơn giản hơn, sự thỏa mãn của nhân viên đối với công việc có thể được định nghĩa như là một phương pháp mô tả sự hạnh phúc của một cá nhân đối với công việc của họ như thế nào (Wikipedia). Một nhân viên càng hạnh phúc trong công 6 việc thì nhân viên đó càng đạt được sự thỏa mãn. Và nếu nhân viên càng thỏa mãn trong công việc, nhân viên đó sẽ có một trạng thái tích cực và có mong muốn hoàn thành tốt công việc của mình (Davis, 1988). Nhiều nghiên cứu đã chứng minh được rằng sự thỏa mãn của nhân viên có tầm quan trọng đến với tổ chức như thế nào.
Ngoài việc giúp cho nhân viên làm việc hiệu quả hơn, tăng năng suất (như Eskildsen & Dahlgaard, 2000), sự thỏa mãn của nhân viên còn là yếu tố quyết định đến sự cam kết và lòng trung thành của tổ chức (như Mak & Sockel, 2001; Martensen & Gronholdt, 2001). Việc cung cấp sự thỏa mãn cho nhân viên còn giúp làm tăng sự hài lòng của khách hàng và cuối cùng là tạo nên năng lực cạnh tranh giúp công ty tăng doanh thu (Tutuncu, 2001). Ngoài ra, sự thỏa mãn của nhân viên trong công việc còn tác động đến sự thỏa mãn trong cuộc sống, những ai thỏa mãn trong công việc thường cảm thấy thỏa mãn trong cuộc sống của họ (Spector,1997). Các lý thuyết về sự thỏa mãn của nhân viên trong công việc 2.
Thuyết nhu cầu của Maslow Tháp nhu cầu (tiếng Anh: Hierarchy of Needs hay Pyramid of Needs) được nhà tâm lý học Abraham Maslow đưa ra vào năm 1943 trong bài viết A Theory of Human Motivation[1] và là một trong những lý thuyết quan trọng nhất của quản trị kinh doanh; đặc biệt là các ứng dụng cụ thể trong quản trị nhân sự và quản trị marketing. Thuyết Maslow được xem là lý thuyết nổi tiếng nhất, cho rằng nhân viên sẽ được động viên và thỏa mãn với công việc chỉ khi các nhu cầu nào đó được thỏa mãn (Aamodt, 2004). Thuyết Malsow còn được gọi là tháp nhu cầu Maslow, tháp gồm năm tầng nhu cầu. Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải được thỏa mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn.
Các nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn được thỏa mãn ngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới (phía đáy tháp) đã được đáp ứng đầy đủ. Sau đây là năm bậc nhu cầu từ thấp đến cao của tháp nhu cầu: 7 Hình 2.1 Hình tháp 5 bậc nhu cầu của Maslow - Nhu cầu sinh học (Vật Chất- physiological): Là những nhu cầu cơ bản để có thể duy trì bản thân cuộc sống con người (như không khí, nước uống, thức ăn, đồ mặc, nhà ở, …). Maslow quan niệm rằng khi nhu cầu này chưa được thỏa mãn tới mức độ cần thiết để có thể duy trì cuộc sống thì nhu cầu khác sẽ không thúc đẩy được mọi người. Những người thất nghiệp hay vô gia cư sẽ thỏa mãn bất kì công việc nào miễn sao nó cung cấp cho họ những nhu cầu cơ bản (Aamodt, 2004); - Nhu cầu an toàn (safety): Là những nhu cầu tránh sự nguy hiểm về thân thể và sự đe dọa mất việc, mất tài sản… Sau khi đã thỏa được nhu cầu cơ bản, 8 nhân viên bắt đầu để ý đến nhu cầu về an toàn.
Điều này thể hiện là nhân viên vẫn sẽ còn thỏa mãn nếu họ tin được rằng nơi họ đang làm việc là an toàn (Aamodt, 2004); - Nhu cầu xã hội (về liên kết và chấp nhận - love/belonging): Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần được những người khác chấp nhận. Con người luôn có nhu cầu yêu thương gắn bó. Cấp độ nhu cầu này cho thấy con người có nhu cầu giao tiếp để phát triển; - Nhu cầu được tôn trọng (esteem): Theo Maslow, khi con người bắt đầu thỏa mãn nhu cầu được chấp nhận là thành viên trong xã hội thì họ có xu thế tự trọng và muốn được người khác tôn trọng. Nhu cầu loại này dẫn tới sự thỏa mãn như: quyền lực, uy tín, địa vị và lòng tự tin.
Theo Aamodt (2004), tổ chức có thể giúp nhân viên đạt được nhu cầu này bằng cách thưởng, thăng chức hay tăng lương; - Nhu cầu tự hoàn thiện/tự khẳng định (self-actualization): Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp của ông. Đó là sự mong muốn để đạt tới chỗ mà một con người có thể đạt tới. Tức là làm cho tiềm năng của một người đạt tới mức tối đa và hoàn thành được một mục tiêu nào đó. Nhu cầu Được thực hiện tại nơi làm việc Tự hoàn thiện/tự khẳng định mình Công việc mang tính thử thách Đòi hỏi nảy sinh sáng kiến, Có cơ hội cho sự phát triển và tiến bộ của bản thân Tham gia vào việc ra quyết định quan trọng Được tôn trọng Chức vụ và trách nhiệm Khen thưởng và được công nhận Cơ hội được phát triển khả năng Xã hội Quan hệ thân thiện trong công việc Tham gia vào các hoạt động của tổ chức, các dự án Được tin cậy, được giúp đỡ người khác 9 An toàn Điều kiện làm việc an toàn, vệ sinh Chế độ hưu trí và bảo hiểm Vật chất – Sinh học Tiền lương, thưởng Điều kiện làm việc (thời gian nghỉ ngơi, dụng cụ làm việc…) Từ đó chúng ta nhận thấy rằng: chế độ lương bổng và đãi ngộ chỉ là một trong những nhu cầu sinh học cơ bản, ở cấp nhu cầu thấp nhất để cho người lao động tồn tại.
Người lao động còn có những nhu cầu khác, mà chúng ta cần quan tâm tạo động lực, để làm cho họ có yếu tố thái độ tốt nhất. Điều này cho chúng ta thấy rằng. Lương bổng và đãi ngộ là nhu cầu quan trọng cơ bản cần thiết nhất của người lao động nhưng không là duy nhất. Để cho người lao động làm việc hiệu quả ngoài nhu cầu lương bổng và đãi ngộ mà chúng ta cần quan tâm xây dựng các hệ thống khác.
Sau Maslow, có nhiều người đã phát triển thêm tháp này như thêm các tầng khác nhau như: - Tầng Cognitive: Nhu cầu về nhận thức, hiểu biết: - Học để hiểu biết, góp phần vào kiến thức chung; - Tầng Self-transcendence: Nhu cầu về thẩm mỹ - có sự yên bình, ham muốn hiểu biết về những gì thuộc nội tại; - Tầng Self-transcendence: Nhu cầu về tự tôn bản ngã - một trạng thái siêu vị kỷ hướng đến trực giác siêu nhiên, lòng vị tha, hòa hợp bác ái. Dù được mở rộng thêm các bậc đã nêu, tuy nhiên mô hình căn bản được chấp nhận rộng rãi vẫn chỉ có 5 tầng như ở trên. Bên cạnh đó, thuyết nhu cầu của Maslow dù rất phổ biến và được xem như một lý thuyết cơ bản khi nói về nhu cầu của con người nói chung, tuy vậy, vẫn còn một số điểm cần được nhìn nhận rõ hơn: - Các nghiên cứu chưa xác nhận được sự tồn tại 5 thứ bậc về nhu cầu con người một cách chính xác; 10 - Các nhu cầu xuất hiện không theo thứ bậc như Maslow đã đề nghị mà tùy thuộc nhiều vào cá nhân và hoàn cảnh. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhu cầu con người tùy thuộc nhiều vào giai đoạn nghề nghiệp, quy mô của tổ chức và vị trí địa lý; - Không tìm được bằng chứng để hỗ trợ cho lý luận của Maslow: nhu cầu này được đáp ứng thì sẽ nảy sinh nhu cầu mới cao hơn; - Nhu cầu an toàn được xếp hạng cao hơn nhu cầu tự hoàn thiện ở những quốc gia như Nhật, Hy Lạp; - Nhu cầu xã hội dường như nổi trội hơn ở những quốc gia có tính tập thể như là Mexico và Pakistan.
Thuyết ERG Thuyết ERG là do Alderfer (1972) tạo ra, thuyết nầy dựa trên thuyết nhu cầu của Maslow. Thuyết này chia nhu cầu ra làm ba loại, nhu cầu tồn tại, nhu cầu giao tiếp và nhu cầu tăng trưởng. Nhu cầu tồn tại bao gồm cả nhu cầu cơ bản và nhu cầu an toàn của thuyết Maslow. Nhu cầu giao tiếp là mong ước thỏa mãn trong quan hệ với mọi người, nhu cầu này bao gồm nhu cầu xã hội và nhu cầu được tôn trọng của thuyết Maslow.
Nhu cầu tăng trưởng thì tương tự nhu cầu tự khẳng định mình. Theo Asdmolt (2004), điểm khác nhau lớn nhất của thuyết ERG và thuyết nhu cầu Maslow chính là các cấp bậc nhu cầu không cố định, một người nào đó có thể bỏ qua một cấp bậc nhu cầu.