Mở đầu. Chƣơng 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trƣớc liên quan về sự hài lòng của khách hàng đối với chất lƣợng dịch vụ tiền gửi tiết kiệm cá nhân. Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng đối với chất lƣợng dịch vụ tiền gửi tiết kiệm cá nhân. Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận về sự hài lòng của khách hàng đối với chất lƣợng dịch vụ tiền gửi tiết kiệm cá nhân tại Agribank Nam Phan Thiết.
Chƣơng 5: Hàm ý quản trị và Kết luận Tóm tắt chƣơng 1 Trong chƣơng 1 của đề tài, tác giả trình bày những nội dung nhƣ lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu chung, mục tiêu nghiên cứu cụ thể, khung lý thuyết nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và đóng góp của luận văn, cuối cùng là bố cục của luận văn, chƣơng kế tiếp tác giả tiếp tục trình bày cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trƣớc liên quan, mô hình đề xuất nghiên cứu. Tầm quan trọng của dịch vụ tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân đối với hệ thống ngân hàng là rất rõ ràng. Sự lựa chọn của ngƣời dân đối với hình thức gửi tiết kiệm khi có nguồn tiền nhàn rỗi mang đến cho ngân hàng rất nhiều cơ hội nhƣng đi kèm với đó là không ít thách thức đến từ sự cạnh tranh của các ngân hàng. Nhận thức đƣợc mức độ quan trọng của việc thu hút tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân, Agribank Nam Phan Thiết đã không ngừng nổ lực để khẳng định vị thế vững chắc của mình trong toàn bộ hệ thống trên địa bàn thành phố Phan Thiết nói riêng và tỉnh Bình Thuận nói chung.
Vì vậy, việc lựa chọn của tác giả khi nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng đối với chất lƣợng dịch vụ tiền gửi tiết kiệm cá nhân tại Agribank Nam Phan Thiết là hết sức cần thiết. 7 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Định nghĩa các khái niệm chính 2.1 Dịch vụ và chất lƣợng dịch vụ 2.1 Khái niệm dịch vụ Dịch vụ đó là một khái niệm phổ biến trong kinh doanh. Nghiên cứu của Zeithaml & Mary (2000) cho rằng: Dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng.
Theo Kotler (2000) thì dịch vụ là bất cứ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này cung cấp cho chủ thể kia, trong đó đối tƣợng cung cấp nhất thiết phải mang tính vô hình và không dẫn đến quyền sở hữa một vật nào cả, còn việc sản xuất dịch vụ có thể hoặc không có thể gắn liền với một sản phẩm vật chất nào. Hay dịch vụ là một hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa khách hàng hoặc tài sản mà khách hàng sở hữu với ngƣời cung cấp mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu. Theo Grönroos (1990), dịch vụ có 5 đặc tính cơ bản, đó là: (1) Tính vô hình (Intangible): Dịch vụ không có hình hài rõ rệt, không cân đo đong đếm một cách cụ thể và khách hàng cũng không thể yêu cầu dùng thử để kiểm tra chất lƣợng sản phẩm nhƣ các sản phẩm hữu hình. Điều này gây khó khăn trong việc đánh giá chất lƣợng dịch vụ.
(2) Tính không thể tách rời: Dịch vụ thƣờng đƣợc cung ứng và tiêu dùng một cách đồng thời. (3) Tính không đồng nhất (Incosistency): Chất lƣợng dịch vụ thƣờng không xác định vì nó phụ thuộc vào ngƣời thực hiện dịch vụ, thời gian và địa điểm thực 8 hiện dịch vụ. Do đó, đối với dịch vụ sẽ không có chất lƣợng đồng nhất và dịch vụ khó để đo lƣờng. (4) Tính không lưu trữ được (Perishable): Từ tính không thể tách rời nguồn gốc của dịch vụ mà dịch vụ không thể sản xuất hàng loạt để lƣu trữ hay tồn kho đƣợc.
(5) Tính không chuyển quyền sở hữu được (No ordinary transfer of ownership): Đặc tính này ảnh hƣởng đến chính sách phân phối trong Marketing dịch vụ, trong đó ngƣời bán buôn, bán lẻ cũng không đƣợc chuyển quyền sở hữu mà chỉ tham gia vào quá trình cung cấp dịch vụ và sẽ ảnh hƣởng đến chất lƣợng dịch vụ. Nhƣ vậy, vấn đề huấn luyện, hỗ trợ, tƣ vấn, kiểm tra đánh giá các trung gian phân phối là yếu tố cần thiết để đảm bảo chất lƣợng dịch vụ.2 Khái niệm về chất lƣợng dịch vụ Chất lƣợng dịch vụ có nhiều cách định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào từng đối tƣợng nghiên cứu và môi trƣờng nghiên cứu và việc tìm hiểu chất lƣợng dịch vụ là cơ sở cho việc thực hiện các biện pháp cải thiện chất lƣợng dịch vụ của doanh nghiệp. Nhƣng có một định nghĩa phổ biến: “Chất lƣợng dịch vụ chính là sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ mà khách hàng cảm nhận đƣợc”. Chất lƣợng dịch vụ đƣợc xác định dựa vào nhận thức hay cảm nhận của khách hàng liên quan đến nhu cầu cá nhân của họ.
Nếu kỳ vọng lớn hơn thực tế, khi đó, chất lƣợng dịch vụ sẽ ít làm thỏa mãn khách hàng hơn, và do đó, khách hàng không hài lòng với dịch vụ” (Parasuraman & ctg, 1985; Liews & Mitchell, 1990; Shahin, 2006).3 Các đặc điểm của chất lƣợng dịch vụ Việc định nghĩa chất lƣợng dịch vụ không chỉ quan trọng trong việc xây dựng mục tiêu phát triển mà còn định hƣớng cho doanh nghiệp phát huy đƣợc thế mạnh của mình một cách tốt nhất. Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, nhƣng xét một cách tổng thể, chất lƣợng dịch vụ thƣờng bao gồm những đặc điểm cơ bản sau đây: (1) Tính vượt trội (Transcendent): Đối với khách hàng, dịch vụ có chất lƣợng là dịch vụ thể hiện tính vƣợt trội ƣu việt, riêng có của mình so với những dịch 9 vụ khác. Chính điều này làm cho chất lƣợng dịch vụ trở thành thế mạnh cạnh tranh của các nhà cung cấp dịch vụ. Có thể nói, tính vƣợt trội của chất lƣợng dịch vụ chịu ảnh hƣởng rất lớn bởi sự cảm nhận từ ngƣời tiêu dùng và điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng.
(2) Tính đặc trưng của sản phẩm (Product led): Chất lƣợng dịch vụ là tổng thể những mặt cốt lõi nhất và tinh túy nhất kết tinh trong sản phẩm, dịch vụ tạo nên tính đặc trƣng của sản phẩm dịch vụ. Chính nhờ tính đặc trƣng này mà khách hàng có thể nhận biết chất lƣợng dịch vụ của nhà cung cấp khác với đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, trên thực tế rất khó xác định các đặc trƣng cốt lõi của dịch vụ một cách đầy đủ và chính xác. Vì vậy, tính đặc trƣng này không có giá trị tuyệt đối mà chỉ mang tính tƣơng đối để giúp cho việc nhận biết chất lƣợng dịch vụ trong trƣờng hợp cụ thể dễ dàng hơn.
(3) Tính cung ứng (Process or supply led): Chất lƣợng dịch vụ gắn liền với quá trình thực hiện, chuyển giao dịch vụ đến khách hàng. Vì vậy, việc triển khai dịch vụ, thái độ phục vụ và cách cung ứng dịch vụ sẽ quyết định rất lớn đến sự đánh giá chất lƣợng dịch vụ tốt hay xấu. Đây là yếu tố nội tại bên trong phụ thuộc vào sự biểu hiện của nhà cung cấp dịch vụ. Do đó, việc cải thiện yếu tố này sẽ tạo thành thế mạnh lâu dài trong hoạt động cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
(4) Tính thỏa mãn nhu cầu (Customer led): Dịch vụ đƣợc tạo ra nhằm cung ứng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Nếu nhƣ chất lƣợng dịch vụ ngày càng hoàn hảo, có chất lƣợng cao thì khách hàng sẽ gắn bó lâu dài và chấp nhận ngân hàng. Nếu khách hàng cảm thấy dịch vụ không đáp ứng đƣợc nhu cầu của mình thì họ sẽ không hài lòng với chất lƣợng dịch vụ mà họ nhận đƣợc. Do đó, nhà cung cấp dịch vụ phải lấy yêu cầu của khách hàng làm căn cứ để cải thiện chất lƣợng dịch vụ.
Xét về phƣơng diện phục vụ khách hàng, tính thỏa mãn khách hàng đã bao hàm cả ý nghĩa của tính cung ứng. Vì vậy, chất lƣợng dịch vụ bắt đầu từ khi nhà cung cấp nắm bắt nhu cầu của khách hàng đến khi tiến hành triển khai dịch vụ. (5) Tính tạo ra giá trị (Value led): Theo Đỗ Tiến Hòa (2007) chất lƣợng dịch vụ gắn liền với các giá trị đƣợc tạo ra nhằm phục vụ khách hàng. Dịch vụ 10 không sản sinh ra giá trị nào hết thì đƣợc xem là không có chất lƣợng.
Một dịch vụ có chất lƣợng phải tạo ra giá trị lớn cho ngƣời sử dụng. Thông thƣờng, khách hàng sẽ so sánh, đánh giá giá trị của dịch vụ với sự mong đợi của họ sẽ nhận đƣợc. Chất lƣợng dịch vụ tuy có nhiều đặc điểm nhƣng tính tạo ra giá trị là đặc điểm cơ bản và là nền tảng cho việc xây dựng và phát triển chất lƣợng dịch vụ.2 Khái niệm về chất lƣợng dịch vụ tiền gửi tiết kiệm Theo Điều 6 Quy Chế về tiền gửi tiết kiệm số 1160/2004 QĐ-NHNN, tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân đƣợc gửi vào tài khoản tiết kiệm, đƣợc xác nhận trên thẻ tiết kiệm, đƣợc hƣởng lãi theo qui định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và đƣợc bảo hiểm theo qui định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Căn cứ vào kỳ hạn gửi tiền có thể chia tiền gửi tiết kiệm thành tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn thông thƣờng ngƣời gửi tiền sẽ đƣợc trợ cấp các kỳ hạn gửi tiền cụ thể nhƣ: 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng. Với hình thức gửi tiền này khách hàng chỉ có thể rút tiền tại ngân hàng mình gửi sau 1 thời hạn đã đƣợc quy định nhƣ trên. Ngày cuối của mỗi kỳ hạn gửi tiền sẽ đƣợc gọi là ngày đáo hạn. Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là sản phẩm tiền gửi cho phép khách hàng đƣợc gửi, rút nhiều bất cứ khi nào có nhu cầu và hƣởng lãi suất không kỳ hạn theo số dƣ cuối mỗi ngày.
Đây cũng là một hình thức gửi tiền khá linh hoạt với những khách hàng luôn phải chi tiêu các khoản tài chính đang có nhƣng vẫn có thể gửi tiền và nhận lãi từ ngân hàng.