Tổng quan nghiên cứu

Trong chiến lược phát triển năng lượng quốc gia theo Quyết định số 906/QĐ-TTg, điện hạt nhân từng được định hướng chiếm tỷ trọng khoảng 7% vào năm 2025 với công suất 8.000 MW và đạt 15.000 MW vào năm 2030. Trong đó, công nghệ lò phản ứng nước áp lực VVER công suất thiết kế 1000 MWe (công suất nhiệt 3000 MWt) với 4 vòng tuần hoàn làm mát là đối tượng công nghệ trọng điểm. Vấn đề an toàn nhiệt thủy lực trong các điều kiện làm việc bất thường luôn là tiêu chuẩn tiên quyết trong việc đánh giá cấp phép và vận hành các tổ máy hạt nhân này.

Sự cố mất nước tải nhiệt với vết nứt nhỏ (SB-LOCA) tại đường ống nối bình điều áp với chân nóng là một trong những kịch bản chuyển tiếp phức tạp và tiềm ẩn nguy cơ đe dọa trực tiếp tới độ nguyên vẹn của vùng hoạt. Nghiên cứu tập trung giải quyết bài toán mô phỏng hành vi động học, các hiện tượng chuyển pha nhiệt thủy lực và đánh giá khả năng bảo vệ của các hệ thống an toàn trong suốt quá trình suy giảm áp suất vòng sơ cấp từ 15,7 MPa. Mục tiêu cốt lõi của công trình là xác lập mô hình tính toán số trị, khảo sát sự phân bố nhiệt độ nhiên liệu và phần thể tích hơi trong điều kiện vỡ ống quy mô nhỏ. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ cấu trúc thủy nhiệt của lò VVER-1000, kiểm chứng các tiêu chí giới hạn an toàn nghiêm ngặt như giữ đỉnh nhiệt độ vỏ thanh nhiên liệu dưới ngưỡng nguy hiểm 1200°C và duy trì khả năng làm mát vùng hoạt dài hạn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hai trụ cột lý thuyết nền tảng trong thủy nhiệt hạt nhân: lý thuyết dòng hai pha không cân bằng nhiệt động và lý thuyết quá trình truyền nhiệt đối lưu tự nhiên trong hệ thống áp lực cao. Mô hình hai chất lỏng sử dụng hệ 6 phương trình vi phân đạo hàm riêng bảo toàn khối lượng, động lượng và năng lượng riêng biệt cho từng pha lỏng và pha hơi, kết hợp với các phương trình vận chuyển khí không ngưng tụ như hydro và nitơ.

Các khái niệm cơ bản chi phối diễn biến sự cố bao gồm:

  • Hiện tượng giới hạn dòng thuận nghịch (CCFL): Sự cản trở dòng nước làm mát chảy xuống do dòng hơi nước ngược chiều có vận tốc cao.
  • Sự đi tắt của dòng nước khẩn cấp (ECCS bypass): Hiện tượng nước làm mát bị cuốn thẳng ra vị trí vết nứt thay vì đi vào làm ngập vùng hoạt.
  • Phản ứng oxy hóa kim loại Zirconi - nước: Phản ứng tỏa nhiệt mạnh sinh ra mức năng lượng 6400 J/gZr và giải phóng khí hydro ở nhiệt độ trên 1000°C.
  • Cơ chế đối lưu tự nhiên: Sự dịch chuyển khối chất lưu do chênh lệch mật độ giữa vùng hoạt nóng và bình sinh hơi lạnh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô phỏng số trị trên phần mềm tính toán thủy nhiệt chuyên dụng CATHARE2, kết hợp kỹ thuật hồi cứu đối chuẩn tài liệu kỹ thuật của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) và Ủy ban Pháp quy Hạt nhân Hoa Kỳ (US NRC). Phần mềm CATHARE2 được lựa chọn vì đã qua kiểm chứng thực nghiệm nghiêm ngặt tại các cơ sở mô hình chuẩn quốc tế quy mô lớn như LOFT (công suất 100%, 2 vòng), BETHSY (tỷ lệ thể tích 1/100, 3 vòng) và PACTEL (áp suất 8 MPa).

Đối tượng mô phỏng là cấu hình hoàn chỉnh của lò VVER-1000 với thể tích bình điều áp 79 m3 và hệ thống 10.978 ống trao đổi nhiệt trong bình sinh hơi nằm ngang. Phương pháp chia lưới không gian sử dụng khối EXPANS2 với tỷ lệ chiều dài giữa hai mắt lưới liền kề không vượt quá 1,5 lần và kích thước mắt lưới tại điểm vỡ đạt độ phân giải tinh 1 mm. Kịch bản mô phỏng kiểm tra vết vỡ đôi trên đường ống nối bình điều áp đường kính 350 mm ở chân nóng vòng 1, chạy mô phỏng liên tục trong khoảng thời gian chuyển tiếp từ 0 đến 500 giây để ghi nhận toàn bộ biến thiên tham số.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình mô phỏng sự cố vỡ đường ống nối bình điều áp với chân nóng đã làm sáng tỏ các thông số động học thủy nhiệt then chốt:

  • Áp suất vòng sơ cấp sụt giảm rất nhanh từ mức danh định 15,7 MPa xuống ngưỡng kích hoạt tín hiệu dập lò khẩn cấp (SCRAM) chỉ sau khoảng 10,14 giây, và tiếp tục giảm xuống dưới 5,9 MPa để tự động kích hoạt hệ thống làm mát khẩn cấp ECCS.
  • Lưu lượng nước thoát qua vết vỡ đạt cực đại trong 20 giây đầu tiên, tạo ra độ giảm khối lượng chất làm mát đáng kể khiến phần thể tích trống (void fraction) trong vùng hoạt tăng lên trên 30%, hình thành rõ nét chế độ dòng hai pha.
  • Đỉnh nhiệt độ của vỏ thanh nhiên liệu Zirconi trong suốt chuỗi biến cố chuyển tiếp dao động an toàn trong khoảng từ 550°C đến 800°C, thấp hơn rất nhiều so với ngưỡng quy chuẩn tới hạn 1200°C.
  • Mức độ oxy hóa cục bộ của vỏ thanh nhiên liệu được khống chế dưới mức 1% chiều dày ban đầu (so với giới hạn cho phép 18%), đồng thời tổng lượng hydro sinh ra không vượt quá 1% lượng hydro cực đại khi oxy hóa toàn phần.

Thảo luận kết quả

Diễn biến nhiệt độ nhiên liệu duy trì ở mức ổn định là nhờ sự phối hợp nhịp nhàng giữa việc dập lò tự động và sự can thiệp kịp thời của các hệ thống an toàn. Khi bơm tuần hoàn chính ngừng hoạt động, cơ chế truyền nhiệt chuyển dịch hiệu quả sang trạng thái đối lưu tự nhiên hai pha và ngưng tụ lưu hồi tại bình sinh hơi. Lượng nhiệt phân rã sau dập lò (chiếm khoảng 5% đến 6% công suất ban đầu) đã được hấp thụ đầy đủ nhờ dòng cấp từ các bình tích áp thụ động và hệ thống bơm cao áp HPSI.

Các dữ liệu chuyển tiếp thủy nhiệt này có thể được biểu diễn trực quan thông qua đồ thị hai trục thể hiện tương quan suy giảm áp suất theo thời gian gắn liền với lưu lượng phun của bơm HPSI và LPSI, kết hợp cùng bảng thống kê chuỗi thời gian kích hoạt các rơ-le bảo vệ. So sánh với các nghiên cứu tương đương trên lò PWR phương Tây, cấu trúc bình sinh hơi nằm ngang của lò VVER-1000 giúp duy trì bể nước thứ cấp lớn hơn, hỗ trợ quá trình giải nhiệt thụ động ổn định hơn khi xảy ra hiện tượng mất nước tải nhiệt cục bộ.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Tăng cường kiểm chuẩn hệ thống cảm biến đo lường mực nước bình điều áp nhằm loại bỏ sai số do hiện tượng dòng thuận nghịch (CCFL), mục tiêu kiểm soát độ lệch hiển thị dưới 2%, hoàn thành hiệu chỉnh trong vòng 12 tháng do đội ngũ kỹ sư vận hành nhà máy chủ trì.
  • Tối ưu hóa thuật toán kích hoạt liên động giữa hệ thống bơm cao áp HPSI và các bể ngập thụ động HA-2 chứa 960 m3 dung dịch axit boric nồng độ 16-20 g/kg, rút ngắn thời gian đáp ứng dòng chảy xuống dưới 15 giây, thực hiện trong giai đoạn 2026 - 2028 bởi cơ quan thiết kế an toàn hệ thống.
  • Thiết lập ngân hàng dữ liệu mô phỏng tai nạn mở rộng cho dải kích thước vết nứt từ 25 mm đến 100 mm trên toàn bộ 4 nhánh chân nóng và chân lạnh, hoàn thành định kỳ hàng năm do các viện nghiên cứu hạt nhân chuyên ngành thực hiện.
  • Ban hành quy trình giám sát và hạn chế hiện tượng ăn mòn cục bộ lớp tráng thép không gỉ tại các mối nối đường ống chính tiết diện 426x40 mm, bảo đảm tuổi thọ vận hành thiết kế trên 40 năm, thuộc trách nhiệm thẩm định của Cục An toàn bức xạ và hạt nhân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan pháp quy và thẩm định an toàn hạt nhân: Sử dụng các tiêu chí chấp nhận và mô hình phân tích để xây dựng khung đánh giá báo cáo phân tích an toàn (SAR) cho các lò phản ứng nước áp lực.
  • Kỹ sư thiết kế và vận hành nhà máy điện hạt nhân: Nắm vững bản chất hiện tượng chuyển pha thủy nhiệt, hiện tượng đi tắt của dòng nước khẩn cấp và quy trình ứng phó sự cố trong phòng điều khiển trung tâm.
  • Giảng viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Vật lý hạt nhân: Khai thác bộ 6 phương trình hai chất lỏng và kỹ thuật mô hình hóa cấu trúc mắt lưới CATHARE2 phục vụ giảng dạy và phát triển các mô hình tính toán số trị chuyên sâu.
  • Chuyên gia tư vấn công nghệ năng lượng: Tham khảo các thông số đối chuẩn kỹ thuật của công nghệ VVER-1000, đánh giá độ tin cậy của các hệ thống an toàn thụ động PHRS phục vụ hoạch định dự án năng lượng.

Câu hỏi thường gặp

Sự cố SB-LOCA khác biệt như thế nào so với sự cố LB-LOCA trong lò phản ứng?

Sự cố SB-LOCA có diện tích vết nứt nhỏ hơn hoặc bằng 465 cm2 (đường kính hiệu dụng từ 25 mm đến 100 mm), diễn biến áp suất suy giảm chậm hơn, tạo điều kiện cho hệ thống tự động và nhân viên vận hành theo dõi, can thiệp xử lý kịp thời so với diễn biến cực nhanh của sự cố vỡ lớn LB-LOCA.

Tại sao hiện tượng giới hạn dòng thuận nghịch CCFL lại gây nguy hiểm trong bình điều áp?

Khi xảy ra sự cố, hơi nước bốc lên từ chân nóng với vận tốc lớn cản trở dòng nước lạnh từ bình điều áp chảy xuống, gây ứ đọng nước cục bộ. Hiện tượng này làm cho thiết bị đo chỉ thị mực nước cao ảo, khiến người vận hành có thể phán đoán sai lệch về trạng thái ngập nước của vùng hoạt.

Phần mềm CATHARE2 có ưu điểm gì trong mô phỏng an toàn nhiệt thủy lực hạt nhân?

CATHARE2 sử dụng mô hình hai chất lỏng hoàn chỉnh với 6 phương trình bảo toàn vi phân và các phương trình phụ trợ cho khí không ngưng tụ, được kiểm chứng thực nghiệm qua nhiều cơ sở thử nghiệm quốc tế lớn như BETHSY và LOFT, đảm bảo độ chính xác vượt trội khi tính toán dòng hai pha phức tạp.

Hệ thống làm mát thụ động PHRS hoạt động theo nguyên lý nào khi xảy ra mất điện toàn trạm?

Hệ thống PHRS hoạt động hoàn toàn dựa trên nguyên lý đối lưu tự nhiên và trọng lực, không cần nguồn điện cấp. Nước nóng từ bình sinh hơi bốc hơi lên các dàn trao đổi nhiệt làm mát bằng không khí ngoài nhà lò, ngưng tụ lại thành nước lỏng và hồi lưu về bình sinh hơi liên tục trong 24 giờ.

Giới hạn nhiệt độ 1200°C của vỏ thanh nhiên liệu có ý nghĩa an toàn như thế nào?

Ngưỡng 1200°C là giới hạn an toàn tối cao nhằm ngăn chặn phản ứng oxy hóa bùng phát dữ dội giữa hợp kim Zirconi và hơi nước (tỏa nhiệt 6400 J/gZr), tránh gây giòn gãy vỏ thanh nhiên liệu, hạn chế nguy cơ rò rỉ sản phẩm phân hạch phóng xạ và ngăn ngừa phát sinh quá mức khí hydro dễ nổ.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích sâu sắc các hiện tượng nhiệt thủy lực phức tạp trong kịch bản sự cố mất nước tải nhiệt vết nứt nhỏ (SB-LOCA) tại vị trí liên kết bình điều áp với chân nóng của lò phản ứng VVER-1000 công suất 1000 MWe.
  • Ứng dụng thành công chương trình tính toán CATHARE2 với mô hình 6 phương trình hai chất lỏng, mô phỏng chính xác các pha chuyển tiếp, biến thiên áp suất và phân bố phần trống trong hệ thống sơ cấp.
  • Kết quả khẳng định các thông số an toàn then chốt đều nằm trong giới hạn cho phép: đỉnh nhiệt độ vỏ thanh nhiên liệu đạt dưới 800°C (ngưỡng giới hạn 1200°C) và mức oxy hóa vỏ Zirconi duy trì dưới 1% (ngưỡng giới hạn 18%).
  • Chứng minh hiệu quả bảo vệ cao của hệ thống làm mát khẩn cấp ECCS kết hợp cùng các cơ chế tải nhiệt đối lưu tự nhiên và bể thụ động HA-2 thể tích 960 m3.
  • Cung cấp cơ sở khoa học và bộ dữ liệu mô phỏng tin cậy phục vụ công tác thẩm định an toàn, đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ điện hạt nhân công nghệ VVER.

Lộ trình nghiên cứu tiếp theo sẽ tập trung mở rộng mô hình hóa các kịch bản sự cố vỡ ống bình sinh hơi (SGTR) kết hợp mất nguồn điện phụ trợ trong giai đoạn 2026 - 2028. Độc giả quan tâm đến mô hình tính toán nhiệt thủy lực chuyên sâu có thể khai thác toàn văn luận văn để ứng dụng vào công tác phân tích an toàn hạt nhân.