Đặt vấn đề Hệ sinh thái rừng chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên đặc biệt và có tác dụng nhiều mặt. Rừng cung cấp nhiều hơn những giá trị không chỉ là các sản phẩm gỗ mà còn cung cấp nguồn nước sạch nơi vui chơi giải trí bảo vệ đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường sống. Nhận thức rõ vai trò của rừng, đã có rất nhiều biện pháp chương trình nhằm phục hồi rừng tự nhiên, cũng như trồng rừng mới nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về lâm sản và giá trị bảo vệ môi trường của rừng. Do vậy diện tích rừng của Việt Nam đặc biệt là rừng trồng đã tăng lên đáng kể trong những năm vừa qua.
Điều này được minh chứng rõ ràng là nếu như năm 1990 Việt Nam chỉ có 745.000 (ha) rừng trồng thì diện tích này là 1.000(ha) vào năm 2006 đưa độ che phủ của rừng đạt 38%. Tính đến 31 tháng 12 năm 2009, tổng diện tích rừng và rừng mới trồng nước ta là 13.843ha, chiếm 39,1% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 10.305ha, diện tích rừng trồng là 2.538ha, hết năm 2016, cả nước có 14. Trong đó rừng tự nhiên là 10.141ha và rừng trồng là 4. Nếu tính so với tổng diện tích tự nhiên toàn quốc là 33.250ha thì hiện nay tỷ lệ độ che phủ là 41,19%.
[10] Những năm gần đây một số loài cây nhập nội như Bạch đàn, Keo… đã tỏ ra thích ứng với rừng cung cấp nguyên liệu, tuy nhiên với mục tiêu phát triển bền vững có một số loài cây nhập nội tỏ ra không đáp ứng cho vấn đề bảo vệ môi trường. Vì vậy, hiện nay trong công tác trồng rừng ở nước ta Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đang có xu hướng bổ sung cơ cấu cây trồng bằng các loài cây bản địa. h 2 Các loài cây bản địa có khả năng thích ứng và có tốc độ sinh trưởng khác nhau ở hoàn cảnh nơi trồng rừng khác nhau. Khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi của môi trường, hoàn cảnh sống và tốc độ sinh trưởng cũng thay đổi theo thời gian và không gian nhất định.
Do vậy, việc nghiên cứu sinh trưởng của các loài cây bản địa trong những điều kiện tự nhiên và biện pháp kỹ thuật gây trồng cụ thể là một việc làm cần thiết, làm cơ sở khoa học cho việc lựa chọn cây trồng phù hợp để góp phần đẩy nhanh công tác phát triển rừng theo hướng phát triển bền vững thoả mãn yêu cầu kinh tế, sinh thái môi trường và xã hội cho các vùng kinh tế sinh thái. “Mô hình chuyển vị vườn thực vật tại mô hình khoa lâm nghiệp” được xây dựng bắt đầu từ tháng 6 năm 2017. Mô hình đã và đang thực hiện nhiệm vụ gây trồng và thử nghiệm khả năng sinh trưởng của 25 loài cây bản địa được đưa về từ các vùng sinh sống vốn có của chúng. Trong quá trình xây dựng thì luôn cần nghiên cứu và đánh giá về khả năng sống sót, mức độ sinh trưởng của các loài cây trong vườn thực vật để có thể nhân rộng những loài cây bản địa này trên các khu vực khác.
Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá sinh trưởng của một số loài cây bản địa tại vườn thực vật trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được tình hình sinh trưởng của một số loài cây bản địa tại vườn thực vật Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên - Xác định được những loài cây có sức sinh trưởng tốt nhất, thích ứng với điều kiện hoàn cảnh tại vườn thực vật. - Đề xuất một số biện pháp trồng cây bản địa phù hợp với điều kiện tự nhiên tại vườn thực vật cũng như việt nhân rộng đến nơi khác. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học - Củng cố kiến thức đã học, hệ thống lại kiến thức đã học, bổ sung kiến thức chuyên môn và vận dụng vào thực tế sản xuất. - việc nghiên cứu đề tài là cơ sở để đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp để phát triển các loài cây bản địa trong việc xây dựng vườn thực vật chuyển vị - Biết cách tổng hợp, phân tích để viết báo cáo khóa luận tốt nghiệp. Ý nghĩa thực tiễn - Qua quá trình thu thập số liệu giúp tôi học hỏi và làm quen với thực địa nghiên cứu. - Qua những đánh giá sinh trưởng chúng ta sẽ có thể tìm ra được các giải pháp cụ thể nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến ngành Lâm Nghiệp và phát triển rừng, phát triển các vườn thực vật đang xây dựng.
- Làm cơ sở tài liệu cho những đề tài nghiên cứu liên quan. h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu - Sinh trưởng của cây rừng là sự gia tăng về đường kính, chiều cao của cây rừng. Đánh giá tình hình sinh trưởng của cây bản địa trong vườn thực vật chuyển vị là theo dõi sự tăng trưởng đường kính, chiều cao cây trong một khoảng thời gian nhất định, để đánh giá khả năng thích nghi với điều kiện hoàn cảnh tại vườn thực vật.
- Vườn thực vật chuyển vị nơi chứa đựng rất nhiều loài cây quý hiếm và có tên trong các danh lục đỏ hay nghị định đang đứng trên bờ vực nguy hiểm, với mục đích bảo tồn về nguồn gen và xây dựng nơi nghiên cứu khoa học cho mọi người thì việc xây dựng vườn thực vật rất cần thiết với thực trạng hiện nay. - Khái niệm về biện pháp chuyển vị: là một trong những biện pháp quan trọng và có hiệu quả trong bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học. Biện pháp bảo tồn ngoại vi là chuyển dời và bảo tồn các loài hoặc các nguyên liệu sinh học của chúng trong môi trường mới không phải là nơi cư trú tự nhiên vốn có của chúng. Bảo tồn ngoại vi bao gồm bảo quản giống, loài, nuôi cấy mô, thu thập các cây để trồng và các loài động vật để nuôi nhằm duy trì vốn gen quý hiếm cho sự nghiên cứu khoa học, nâng cao dân trí và giáo dục lòng yêu thiên nhiên cho mọi tầng lớp nhân dân.
- Trên cơ sở đang xây dựng 1 vườn thực vật trong mô hình khoa Lâm nghiệp giống như hình thành 1 tế bào nhỏ và sẽ nuôi tế bào ấy lớn mạnh theo thời gian để các loài cây bản địa luôn được giữ và bảo tồn. Đó cũng là 1 trong những mục tiêu để phát triển rừng một cách bền vững. Tình hình nghiên cứu 2. Trên thế giới Trong những năm gần đây có nhiều nước trên thế giới đã tiến hành nghiên cứu và trồng thử nghiệm thành công rừng trồng các loài cây bản địa.
Trong các loài cây bản địa, các loài thuộc chi Paulownia đang được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học đặc biệt là ở Châu Á. Viện hàn lâm Lâm nghiệp Trung Quốc (CAF) đã tiến hành nghiên cứu một cách có hệ thống từng phân loại, đặc tính sinh thái, phân bố đến kỹ thuật gây trồng và sử dụng các loài cây trong chi Paulownia. Tại Châu Á, Thái Bình Dương, nhiều nước đã trồng thành công và biến vùng này thành thị trường truyền thống gỗ Tếch trên thế giới với sản lượng 4 triệu m3 /năm lấy từ gỗ có đường kính 6cm trở lên. Riêng Thái Lan [19], ở Huay sompoi đã khảo nghiệm 8 xuất xứ của Tếch và lựa chọn được 2 xuất xứ sinh trưởng tốt nhất là: - Xuất xứ Huay sompoi.
- Xuất xứ phayao. Tại Kasma Forest Technology Center (Nhật Bản) [20] đã thiết lập hàng loạt các mô hình rừng nhiều tầng tán bao gồm nhiều loài cây và nhiều cấp tuổi, trồng ở nhiều nơi với độ cao khác nhau. Đặc biệt ở vùng Tsucuba có độ cao dưới 876m so với mặt nước biển đã trồng loài cây Tuyết tùng (Japanese ceder) và một số loài khác để tạo ra những lâm phần bền vững có giá trị và họ đã nhận thấy có sự tác động qua lại khi tương hỗ, khi cạnh tranh giữa các loài được trồng trong lâm phần. Tại Malaisia, năm (1999) [21] trong dự án xây dựng rừng nhiều tầng đã giới thiệu cách thiết lập mô hình rừng hỗn loài trên 3 đối tượng: Rừng tự nhiên, rừng trồng Keo tai tượng (Acacia Mangium) 10 – 15 tuổi và 2 - 3 tuổi.
Dự án đã sử dụng 23 loài cây bản địa có giá trị, trồng theo băng 30 mét trong rừng tự h 6 nhiên. Trên băng trồng 6 loài cây bản địa. Trồng 14 loài cây bản địa dưới tán rừng Keo tai tượng theo 2 khối thí nghiệm: Khối A: Mở băng 10m trồng 3 loài cây bản địa. Mở băng 20m trồng 7 hàng cây bản địa.
Mở băng 40m trồng 15 hàng cây bản địa. Khối B: Chặt 1 hàng Keo tai tượng trồng 1 hàng cây bản địa. Chặt 2 hàng Keo tai tượng trồng 2 hàng cây bản địa. Chặt 4 hàng Keo tai tượng trồng 4 hàng cây bản địa… Kết quả cho thấy trong 14 loài cây trồng thuộc khối A có 3 loài: Shorea roxburrghii; Shorea ovalis; Shorea leprossula sinh trưởng chiều cao và đường kính tốt nhất.
Tỷ lệ sống không khác biệt, sinh trưởng chiều cao cây trồng tốt ở băng 10m và băng 40m. Băng 20m không thoả mãn điều kiện sinh trưởng chiều cao. Khối B có tỷ lệ sống, sinh trưởng chiều cao tốt khi trồng 1 hàng, sinh trưởng đường kính tốt cho công thức trồng 6 hàng và 16 hàng. Tại Đài Loan và một số nước Châu Á sau khi đã trồng phủ xanh đất trống đồi núi trọc bằng cây lá kim đã tiến hành gây trồng cây bản địa dưới tán rừng này.
Kết quả đã tạo ra những mô hình rừng hỗn giao bền vững, đạt năng suất cao, có tác dụng tốt trong việc bảo vệ chống xói mòn đất, hạn chế dịch bệnh và lửa rừng. [8] Qua những nghiên cứu trên cho thấy cây bản địa đã được rất nhiều tác giả quan tâm. Nhiều loài cây có giá trị kinh tế như: Tếch, Liễu Sam… đã được chọn để phục vụ trồng rừng. Tuy nhiên còn có rất nhiều loài cây bản địa vẫn chưa được nghiên cứu về khả năng sinh trưởng trên những lập địa cụ thể nên việc nghiên cứu khả năng sinh trưởng một số loài cây bản địa là thật cần thiết, đặc biệt là đối với các loài cây bản địa ở Việt Nam h 7 2.
Trong nước PGS - TS Nguyễn Xuân Quát, PTS Vũ Văn Mễ và Đoàn Bổng năm 1983 - 1985 nghiên cứu đề tài: “Bước đầu xác định loại cây trồng cho các vùng kinh tế Lâm nghiệp” [11]. Kết quả đề tài đã tổng hợp được cơ cấu cây trồng cho 9 vùng kinh tế Lâm nghiệp, trong đó có một số loài cây gỗ bản địa.