Tổng quan nghiên cứu
Thực trạng suy giảm tài nguyên rừng tự nhiên và sự suy thoái đa dạng sinh học do phương thức trồng rừng độc canh các loài cây nhập nội đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc phát triển nguồn gen cây gỗ bản địa có giá trị cao. Vườn Quốc gia Cúc Phương có tổng diện tích 22.200 ha, trong đó Vườn Thực vật rộng 150 ha được thành lập từ năm 1985 nhằm bảo tồn nguồn gen thực vật quý hiếm. Đề tài tập trung nghiên cứu và đánh giá khả năng sinh trưởng của 5 loài cây gỗ bản địa gồm Lim xanh (Erythrophloeum fordii), Sâng (Amesiodendron chinensis), Máu chó lá nhỏ (Knema conferta), Vàng tâm (Manglietia conifera) và Sến mật (Madhuca pasquieri).
Nghiên cứu được thực hiện tại Vườn Thực vật thuộc khu vực Đông Nam Vườn Quốc gia Cúc Phương (tọa độ 20°14' đến 20°24' vĩ độ Bắc, 105°29' đến 105°44' kinh độ Đông). Đối tượng khảo sát là các lâm phần trồng thuần loài theo đám với độ tuổi theo dõi thực tế từ 21 đến 26 năm (được gây trồng giai đoạn 1986 - 1991). Mục tiêu cụ thể là xác định các chỉ tiêu sinh trưởng về đường kính thân cây tại vị trí 1,3 m, chiều cao vút ngọn, chiều cao dưới cành, đường kính tán, trữ lượng lâm phần và phẩm chất cây rừng. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học định lượng chuẩn xác với trữ lượng lâm phần ghi nhận từ 118,16 m³/ha đến 230,80 m³/ha, làm tiền đề cho việc chọn lựa loài cây có triển vọng gây trồng mở rộng và phục hồi hệ sinh thái rừng nhiệt đới bền vững.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng lý thuyết biên độ sinh thái (Ecological Amplitude Theory) trong lâm học, xác định giới hạn thích nghi của từng loài cây đối với các nhân tố lập địa như nhiệt độ, lượng mưa, độ dốc và tính chất lý hóa của đất. Đồng thời, đề tài áp dụng lý thuyết động thái cấu trúc lâm phần rừng nhiệt đới để phân tích sự tương tác giữa tầng cây gỗ với cây bụi, thảm tươi và khả năng cạnh tranh không gian dinh dưỡng.
Các khái niệm chính được định nghĩa và chuẩn hóa bao gồm: Đường kính thân cây ngang ngực (D1.3 đo tại vị trí 1,3 m tính từ mặt đất), Chiều cao vút ngọn (Hvn là khoảng cách thẳng đứng từ gốc đến ngọn cao nhất), Chiều cao dưới cành (Hdc phản ánh năng lực tỉa cành tự nhiên và tỷ lệ lợi dụng gỗ) và Đường kính tán (Dt đo theo hình chiếu tán). Mô hình xác định mật độ tối ưu được xây dựng dựa trên công thức Keller (Nopt = 10.000 / Dt²) và mô hình ước tính thể tích thân cây cá thể Vi = Gi * Hvn * F (với hình số thân cây F = 0,45).
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu ngoại nghiệp được thu thập trực tiếp tại hai phân khu Thung Khi và Thung Lốc thuộc Vườn Thực vật Vườn Quốc gia Cúc Phương, kết hợp kế thừa chuỗi số liệu quan trắc khí tượng 15 năm và tài liệu theo dõi lâm phần định kỳ từ năm 1986 đến năm 2012.
Phương pháp chọn mẫu điển hình được áp dụng thông qua việc thiết lập 1 ô tiêu chuẩn (OTC) có diện tích 1.000 m² (kích thước 40 m x 25 m) cho mỗi loài cây tại vị trí đồng nhất, không bị chia cắt bởi đường mòn. Tổng cỡ mẫu đo đếm toàn diện gồm 327 cây gỗ thành tầng: 66 cây Lim xanh, 60 cây Sâng, 69 cây Máu chó lá nhỏ, 56 cây Vàng tâm và 76 cây Sến mật. Trên mỗi OTC, thiết lập 5 ô dạng bản (ODB) diện tích 25 m² để điều tra tầng cây bụi thảm tươi và đào phẫu diện đất sâu trên 1,2 m để phân tích tầng phát sinh.
Dụng cụ đo đếm chuyên dụng gồm thước dây chuyên dụng đo đường kính, thước đo cao Blumeleiss (sai số mục trắc 0,5 đến 1,0 m) và địa bàn cầm tay. Toàn bộ số liệu được xử lý bằng công cụ thống kê mô tả (Descriptive Statistics) trên phần mềm Microsoft Excel với mức độ tin cậy 95,0%. Phương pháp phân tích thống kê toán học này giúp kiểm soát sai số mẫu, đánh giá khách quan phương sai, độ lệch chuẩn và hệ số biến động giữa các cá thể trong lâm phần.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Phát hiện thứ nhất: Tốc độ sinh trưởng về đường kính và chiều cao có sự phân hóa mạnh mẽ giữa 5 loài cây. Vàng tâm (21 tuổi) và Máu chó lá nhỏ (23 tuổi) là hai loài có tốc độ tăng trưởng tốt nhất. Vàng tâm dẫn đầu về tăng trưởng đường kính bình quân đạt 0,99 cm/năm (D1.3 trung bình 20,84 cm) và tăng trưởng chiều cao vút ngọn đạt 0,90 m/năm (Hvn trung bình 18,96 m). Máu chó lá nhỏ đạt D1.3 trung bình 21,43 cm (0,93 cm/năm) và Hvn trung bình 20,29 m (0,88 m/năm). Ngược lại, Sến mật có tốc độ sinh trưởng thấp nhất với D1.3 chỉ đạt 16,60 cm (0,72 cm/năm) và Hvn đạt 15,69 m (0,68 m/năm).
Phát hiện thứ hai: Trữ lượng lâm phần đạt giá trị cao nhất ở loài Máu chó lá nhỏ với 230,80 m³/ha (tăng trưởng trữ lượng bình quân 10,03 m³/ha/năm), vượt trội 95,3% so với lâm phần Sến mật (118,16 m³/ha, tăng trưởng 5,14 m³/ha/năm). Lâm phần Vàng tâm đạt trữ lượng 166,87 m³/ha (7,95 m³/ha/năm), Sâng đạt 171,89 m³/ha (6,61 m³/ha/năm) và Lim xanh đạt 164,34 m³/ha (7,15 m³/ha/năm).
Phát hiện thứ ba: Phẩm chất lâm phần phản ánh sự thích nghi rõ rệt. Máu chó lá nhỏ, Vàng tâm và Sâng có tỷ lệ cây phẩm chất tốt lần lượt là 65,22%, 64,29% và 61,67%, tỷ lệ cây xấu duy trì dưới mức 5,4%. Trái lại, Lim xanh có tỷ lệ cây phẩm chất xấu lên tới 57,58% do hiện tượng phân cành thấp, đa thân (2 đến 3 thân mỗi gốc) và nhiễm bệnh bồ hóng; Sến mật có 34,21% cây tốt và 19,74% cây xấu.
Phát hiện thứ tư: Về trạng thái tán rừng và mật độ, lâm phần Sến mật chưa khép tán hoàn toàn (đường kính tán Dt trung bình đạt 3,59 m, mật độ hiện tại 650 cây/ha thấp hơn mật độ thích hợp 716 cây/ha). Trong khi đó, 4 loài còn lại đều đã giao tán dày đặc, mật độ hiện tại vượt mật độ tối ưu từ 70 cây/ha (Lim xanh) đến 350 cây/ha (Máu chó lá nhỏ).
Thảo luận kết quả
Khả năng sinh trưởng vượt bậc của Máu chó lá nhỏ và Vàng tâm xuất phát từ sự phù hợp cao với điều kiện thổ nhưỡng đất Feralit tầng dày trên 100 cm, hàm lượng mùn từ 4% đến 5% và lượng mưa dồi dào 2138 mm/năm tại Cúc Phương. Máu chó lá nhỏ thể hiện khả năng tỉa cành tự nhiên xuất sắc với chiều cao dưới cành đạt 15,26 m và tốc độ tăng trưởng Hdc đạt 0,66 m/năm.
Đối với Lim xanh, tăng trưởng đường kính tại Cúc Phương (0,86 cm/năm) thấp hơn đáng kể so với Lim xanh trồng tại Núi Luốt (0,95 cm/năm) và Cầu Hai - Phú Thọ (1,08 cm/năm). Nguyên nhân chính là phương thức trồng thuần loài theo đám dày làm hạn chế ánh sáng và thúc đẩy phân cành gốc, trong khi Lim xanh là loài cần ánh sáng tầng trên khi qua 5 tuổi. Sến mật là loài cây bản địa có chu kỳ sinh trưởng tự nhiên kéo dài, bộ tán hẹp và sinh trưởng chậm ở giai đoạn dưới 25 năm nên chưa thể phát huy tối đa sinh khối.
Dữ liệu thực nghiệm của nghiên cứu được mô hình hóa qua các biểu đồ đường thể hiện động thái tăng trưởng thường xuyên theo chu kỳ tuổi và biểu đồ cột so sánh tương quan trữ lượng lâm phần. Hệ số biến động đường kính dao động từ 7,88% (Lim xanh) đến 11,71% (Vàng tâm), phản ánh mức độ phân hóa kích thước giữa các cá thể trong cùng một điều kiện lập địa đồng nhất.
Đề xuất và khuyến nghị
Thực hiện tỉa thưa nuôi dưỡng lâm phần định kỳ: Ban Quản lý Vườn Quốc gia Cúc Phương cần tổ chức bài cây và chặt tỉa thưa trong khung thời gian 6 đến 12 tháng tới. Mục tiêu cụ thể là giảm mật độ 350 cây/ha đối với lâm phần Máu chó lá nhỏ (từ 690 xuống 340 cây/ha), tỉa 241 cây/ha đối với Sâng, 129 cây/ha đối với Vàng tâm và 70 cây/ha đối với Lim xanh. Hoạt động này nhằm mở rộng không gian dinh dưỡng, giảm cạnh tranh ánh sáng và thúc đẩy tăng trưởng đường kính thân cây thêm 15% đến 20%.
Hoàn thiện kỹ thuật chọn giống và tạo hình thân đối với Lim xanh: Viện Khoa học Lâm nghiệp cùng các trung tâm nghiên cứu giống lâm nghiệp cần triển khai đề án khảo nghiệm xuất xứ trong giai đoạn 2024 - 2026. Cần tập trung tuyển chọn cây mẹ ưu trội có thân đơn thẳng, đồng thời áp dụng biện pháp cắt tỉa cành nhánh từ năm tuổi thứ 1 đến thứ 3 để kéo giảm tỷ lệ cây đa thân từ 57,58% hiện nay xuống dưới 10%, nâng cao chiều cao dưới cành đạt trên 12 m phục vụ mục tiêu lấy gỗ lớn.
Chuyển đổi phương thức trồng rừng đối với Sến mật và Lim xanh: Chi cục Kiểm lâm và các công ty lâm nghiệp địa phương cần áp dụng mô hình trồng rừng hỗn giao theo băng hoặc theo rạch trong kế hoạch 3 năm tới. Cần phối hợp trồng xen cây gỗ bản địa với cây che bóng mọc nhanh để duy trì độ tàn che từ 0,3 đến 0,5 trong 5 năm đầu, giúp nâng tỷ lệ sống lên trên 85% và rút ngắn thời gian khép tán của Sến mật trước năm 15 tuổi.
Tăng cường giám sát dịch hại và vệ sinh rừng: Đội ngũ kỹ thuật quản lý rừng tại chỗ cần thiết lập lịch tuần tra dịch bệnh định kỳ mỗi quý một lần. Tiến hành phát quang dây leo chèn ép, điều tiết độ che phủ của tầng cây bụi thảm tươi ở mức 60% đến 70%, đồng thời xử lý dứt điểm các ổ nấm bệnh bồ hóng trên lâm phần Lim xanh trong vòng 3 đến 6 tháng để bảo vệ 100% diện tích rừng trồng.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Cơ quan quản lý nhà nước và Ban Quản lý các Vườn Quốc gia, Khu Bảo tồn thiên nhiên: Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng về sinh trưởng của 5 loài cây bản địa qua hơn 20 năm, hỗ trợ đắc lực cho công tác quy hoạch bảo tồn nguồn gen, xây dựng đề án làm giàu rừng tự nhiên và phục hồi rừng đặc dụng quy mô hàng nghìn hecta.
Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Lâm học, Sinh thái học rừng: Luận văn là nguồn tham khảo học thuật giá trị về phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn 1.000 m², các chỉ số thống kê sinh thái (hệ số biến động từ 5,93% đến 29,41%) và mô hình tính toán mật độ tối ưu theo đường kính tán.
Doanh nghiệp lâm nghiệp và các chủ rừng kinh doanh gỗ lớn: Cung cấp thông số kinh tế kỹ thuật chính xác về năng suất sinh khối (trữ lượng 166,87 đến 230,80 m³/ha) và giá trị thương phẩm (gỗ Lim xanh đạt 17 đến 18 triệu đồng/m³, Vàng tâm đạt 9 đến 11 triệu đồng/m³) để xây dựng phương án đầu tư rừng trồng gỗ lớn bền vững.
Kỹ sư lâm sinh và cán bộ khuyến nông tại các địa phương trung du miền núi: Dễ dàng ứng dụng trực tiếp các quy trình kỹ thuật về xác định mật độ trồng từ 290 đến 431 cây/ha, kỹ thuật tỉa thưa điều tiết tán và biện pháp phòng trừ bệnh bồ hóng vào thực tế sản xuất lâm nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
Loài cây gỗ bản địa nào đạt năng suất sinh trưởng và trữ lượng cao nhất trong nghiên cứu?
Máu chó lá nhỏ đạt trữ lượng sinh khối cao nhất với 230,80 m³/ha ở tuổi 23, tăng trưởng trữ lượng bình quân 10,03 m³/ha/năm, chiều cao vút ngọn trung bình 20,29 m và tỷ lệ cây tốt đạt 65,22%. Vàng tâm xếp thứ hai với trữ lượng 166,87 m³/ha và tốc độ tăng trưởng đường kính đạt đỉnh 0,99 cm/năm.
Nguyên nhân khiến tỷ lệ cây phẩm chất xấu của Lim xanh lên tới 57,58% là gì?
Tỷ lệ cây xấu cao ở lâm phần Lim xanh bắt nguồn từ việc trồng thuần loài theo đám dày khiến cây bị phân cành sớm thành dạng đa thân (2 đến 3 thân mỗi gốc) và sự phát sinh của bệnh bồ hóng. Tăng trưởng đường kính chỉ đạt 0,86 cm/năm, thấp hơn mức 1,08 cm/năm tại Phú Thọ.
Vì sao lâm phần Sến mật 23 tuổi vẫn chưa đạt trạng thái khép tán?
Sến mật có đặc tính sinh học sinh trưởng chậm, đường kính tán trung bình sau 23 năm chỉ đạt 3,59 m với tốc độ tăng trưởng tán 0,16 m/năm. Mật độ hiện tại 650 cây/ha vẫn chưa đạt ngưỡng mật độ thích hợp 716 cây/ha theo công thức Keller, khiến tầng tán chưa khép kín.
Mật độ tối ưu cho các loài cây gỗ bản địa được xác định trên nguyên tắc nào?
Mật độ thích hợp được tính toán dựa trên đường kính tán thực tế theo công thức Keller. Mật độ tối ưu của Máu chó lá nhỏ là 340 cây/ha, Sâng là 359 cây/ha, Vàng tâm là 431 cây/ha và Lim xanh là 290 cây/ha. Các lâm phần hiện hữu cần tỉa thưa từ 70 đến 350 cây/ha.
Giá trị kinh tế thương phẩm của 5 loài cây gỗ bản địa có sự chênh lệch ra sao?
Lim xanh và Vàng tâm có giá trị kinh tế cao nhất trên thị trường, dao động từ 9 đến 18 triệu đồng/m³ gỗ tròn chất lượng cao. Sến mật cũng là loại gỗ quý nhóm một, trong khi gỗ Sâng và Máu chó lá nhỏ có giá trị thương mại thấp hơn, khoảng 3 đến 5 triệu đồng/m³ gỗ.
Kết luận
- Máu chó lá nhỏ và Vàng tâm là hai loài cây gỗ bản địa có khả năng thích nghi và sinh trưởng xuất sắc nhất tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, đạt trữ lượng lâm phần lần lượt là 230,80 m³/ha và 166,87 m³/ha với tỷ lệ cây phẩm chất tốt trên 64%.
- Lim xanh và Sến mật sinh trưởng chậm hơn, trong đó Lim xanh gặp hạn chế lớn về tỷ lệ đa thân cao (57,58% cây xấu) và Sến mật chưa hoàn thành giai đoạn khép tán sau 23 năm gây trồng.
- Biện pháp tỉa thưa lâm phần cần được triển khai khẩn cấp với cường độ chặt từ 70 đến 350 cây/ha để hạ mật độ về ngưỡng tối ưu từ 290 đến 431 cây/ha, giải phóng không gian dinh dưỡng cho tầng cây cao.
- Đóng góp khoa học then chốt của luận văn là thiết lập hệ thống dữ liệu định lượng 26 năm về sinh trưởng của 5 loài gỗ quý, làm căn cứ vững chắc cho công tác chọn giống và phục hồi rừng bền vững.
- Kế hoạch giai đoạn 2024 - 2028 cần tập trung mở rộng khảo nghiệm mô hình hỗn loài đa tầng và tiếp tục quan trắc định kỳ diễn biến sinh trưởng của các loài cây bản địa.
Các đơn vị lâm nghiệp, ban quản lý rừng và nhà đầu tư cần ứng dụng ngay những phát hiện thực nghiệm này vào quy hoạch rừng trồng gỗ lớn để hiện thực hóa mục tiêu kép về giá trị kinh tế và bảo tồn đa dạng sinh học.