Chương 1. Giới thiệu đề tài. Chương này trình bày vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu, kết cấu luận văn. Cơ sở lý thuyết và nghiên cứu liên quan.
Chương này trình bày các khái niệm về hộ gia đình, mức sẵn lòng chi trả, các lý thuyết kinh tế và tổng hợp các nghiên cứu liên quan đến đề tài. Phương pháp và mô hình nghiên cứu. Chương này trình bày phương pháp chọn mẫu, phương pháp phân tích dữ liệu và mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu.
Chương này trình bày thực trạng sử dụng nước sạch của hộ gia đình trên địa bàn huyện Vĩnh Thuận, đặc điểm mẫu khảo sát, kết quả hồi quy và thảo luận kết quả nghiên cứu. Kết luận và hàm ý chính sách. Chương này trình bày những kết quả mà đề tài đạt được, các hàm ý chính sách nhằm mở rộng mạng lưới cung cấp nước sạch nông thôn, đồng thời chỉ ra các hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. 123doc 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.
MỘT SỐ KHÁI NIỆM 2. Hộ và hộ gia đình nông thôn Hộ có nhiều định nghĩa khác nhau bởi nhiều tác giả. Theo giáo trình kinh tế phát triển nông thôn có trích dẫn thì tác giả Martin (1988) có định nghĩa, hộ là đơn vị cơ bản liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác. Theo Harris, ở viện nghiên cứu phát triển trường Đại học tổng hợp Susex (Luân Đôn - Anh) cho rằng: “Hộ là một đơn vị tự nhiên tạo nguồn lao động”.
Từ đó, có thể hiểu hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc hay không cùng huyết tộc, cùng sống chung hay không cùng sống chung một mái nhà, có chung một nguồn thu nhập và ăn chung, cùng tiến hành sản xuất chung. Hộ gia đình nông thôn được hiểu là hộ có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất và sử dụng chủ yếu lao động gia đình và sản xuất. Luôn nằm trong hệ thống kinh tế rộng lớn nhưng về cơ bản được đặc trưng tham gia một phần vào thị trường với mức độ chưa hoàn chỉnh. Nông hộ cũng có thể được hiểu là hộ có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất và sử dụng chủ yếu lao động gia đình vào sản xuất.
Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn (Trần Văn Hiền, 2014). Theo Ellis (1988): Nông hộ là các hộ nông dân thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao. Thu nhập và thu nhập hộ gia đình Theo Tổng Cục Thống kê (2010):Thu nhập là tổng số tiền mà một người hay một gia đình kiếm được trong 1 ngày, 1 tuần hay 1 tháng, hay nói cụ thể hơn là tất cả những gì mà người ta thu được khi bỏ công sức lao động một cách chính đáng được gọi là thu nhập. Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng được tính bằng cách chia tổng thu nhập trong năm của hộ gia đình cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng.
123doc 5 Thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ gia đình và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm, bao gồm (1) thu từ tiền công, tiền lương, (2) thu từ sản xuất nông, lâm, nghiệp, thủy sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất), (3) thu từ ngành nghề phi nông, lâm, thủy sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất), (4) thu khác được tính vào thu nhập (không tính tiền từ tiết kiệm, bán tài sản, vay thuần túy, thu nợ và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được). Về tài nguyên nước Theo luật tài nguyên nước quy định (sửa đổi và bổ sung 2012): Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước dưới đất, nước mưa và nước biển trên lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Luật cũng quy định, nguồn nước là các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai thác, sử dụng bao gồm sông, suối, kênh, rạch, hồ, ao, đầm, phá, biển, các tầng chứa nước dưới đất; mưa, băng, tuyết và các dạng tích tụ nước khác. Về nước sạch Theo quy định của Luật Tài nguyên nước năm 1998 thì nước sạch là nước đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng của Tiêu chuẩn Việt Nam.
Theo tiêu chuẩn của Bộ Y Tế “nước sạch trong quy định này là nước dùng trong các mục đích sinh hoạt cá nhân và gia đình, không sử dụng làm nước ăn uống trực tiếp. Nếu dùng trực tiếp cho ăn uống phải xử lý để đạt tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống ban hành theo Quyết Định số 1329/QĐ- BYT ngày18/4/2002 của Bộ Y Tế”. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MỨC SẴN LÒNG CHI TRẢ 2. Khái niệm về mức sẵn lòng chi trả theo lý thuyết marketing Theo Breidert (2005), khi mua sắm một sản phẩm, khách hàng sẵn lòng chi trả bao nhiêu phụ thuộc vào giá trị kinh tế nhận được và mức độ hữu dụng của sản phẩm.
Hai giá trị xác định mức giá một người sẵn long chấp nhận là mức giá hạn chế và mức giá tối đa. Tuy thuộc nhận định của khách hàng khi mua sản phẩm là sản phẩm dự định mua không có sản phẩm thay thế thi để có được độ hữu dụng của sản phẩm, khách hàng sẵn sàng chi trả khoản tiền cao nhất là mức giá hạn chế; hoặc sản phẩm thay thế của sản phẩm dự định mua có giá trị kinh tế thấp hơn mức hữu dụng thi mức giá cao nhất khách hàng chấp nhận chi trả bằng với giá trị kinh tế của sản phẩm thay 123doc 6 thế là mức giá tối đa. Mức sẵn lòng chi trả được định nghĩa là mức giá cao nhất một cá nhân sẵn sàng chấp nhận chi trả cho một hàng hóa dịch vụ. Định giá sản phẩm Nagle va Holden (2002) va Monroe (2003), dẫn theo Breidert (2005), cho rằng định giá là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong marketing hỗn hợp.
Nó là yếu tố duy nhất sản sinh ra thu nhập. Giá một sản phẩm (là hàng hóa hay dịch vụ) được đưa ra tương tác mạnh mẽ với hầu hết các yếu tố khác của marketing hỗn hợp như: quảng cáo và khuyến mại, phân phối… Kotler va Armstrong (2001) định nghĩa giá là “lượng tiền phải trả cho một sản phẩm hoặc dịch vụ, hoặc tổng giá trị mà người tiêu dùng đánh đổi để có hoặc sử dụng sản phẩm hay dịch vụ”. Monroe (2003) định nghĩa giá theo công thức sau: P=M/G Trong đó: - P là giá sản phẩm; - M là lượng tiền hoặc hàng hóa/ dịch vụ mà người bán nhận được; - G là lượng hàng hóa/ dịch vụ mà người mua nhận được. Có hai phương pháp định giá sản phẩm là định giá sản phẩm dựa vào chi phí và định giá sản phẩm dựa vào giá trị người tiêu dùng nhận được.
Định giá sản phẩm dựa vào chi phí: Sản phẩm ->Chi phí ->Giá ->Giá trị nhận được ->Khách hàng. Định giá sản phẩm dựa vào giá trị nhận được: Khàch hàng ->Giá trị nhận được ->Giá ->Chi phí ->Sản phẩm. Theo phương pháp định giá sản phẩm dựa vào chi phí (cost basedpricing), giá bán được đưa ra dựa vào các chi phí liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Chi phí là yếu tố quyết định giá bán.
Ngược lại, nhiều công ty định giá sản phẩm của họ dựa vào giá trị nhận được (value based-pricing). Giá bán được xây dựng trước khi tính đến các chi phí liên quan đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Công ty ước tinh giá trị nhận được của người tiêu dùng khi sử dụng hàng hóa/ dịch vụ của công ty là giá bán. Căn cứ vào giá trị mục tiêu và giá bán mục tiêu, các quyết định về thiết kế sản phẩm và chi phí được đưa ra (Kotler va Armstrong, 2001, dẫn theo Breidert, 2005).
Việc định giá sản phẩm dựa và giá trị nhận được khó khăn hơn dựa vào chi phí nhưng 123doc 7 tiềm năng lợi nhuận của chiến lược giá dựa vào giá trị nhận được lớn hơn nhiều so với bất kỳ phương pháp định giá nào khác (Monroe, 2003, dẫn theo Breidert, 2005). Tuy nhiên, việc nhận định giá trị nhận được của khách hàng sai gây ảnh hưởng lớn đến doanh thu của sản phẩm. Nếu công ty nhận định giá trị khách hàng nhận được nhiều dẫn đến định giá sản phẩm quá cao, sản phẩm sẽ không tiêu thụ được, doanh thu bị ảnh hưởng. Ngược lại, nhận định giá trị nhận được thấp dẫn đến giá bán thấp, doanh thu cũng bị ảnh hưởng.
Việc đưa ra khái niệm này nhằm mục đích phân tích mức WTP của người dân để được sử dụng nước sạch so sánh với mức giá của nhà máy dẫn đến việc ra quyết định của người dân.2 Giá tối đa Nagle va Holden (2002), Monroe (2003), dẫn theo Breidert (2005), định nghĩa giá tối đa như sau: Giá tối đa (pmax) của một sản phẩm được hình thành bởi người tiêu dùng như là sự nhận biết mức giá tham khảo của các sản phẩm tham khảo cộng với giá trị khác biệt giữa sản phẩm tham khảo và sản phẩm quan tâm. Mức giá tối đa được thể hiện như sau: Pmax = pref + pdiff Trong đó: Pmax là giá tối đa, pref là giá trị tham khảo, pdiff là giá trị khác biệt. Giá trị tham khảo (pref) là chi phí mà khách hàng bỏ ra để mua một sản phẩm cạnh tranh mà họ cho là sự thay thế tốt nhất của sản phẩm họ đang quan tâm. Giá trị khác biệt (pdiff) là giá trị của bất kỳ sự khác biệt nào giữa sản phẩm quan tâm và sản phẩm tham khảo.
Như vậy, sản phẩm hoàn hảo, ưu việt nhất so với các sản phẩm cạnh tranh sẽ có giá bán tối đa. Mấu chốt để có giá bán tối đa là khác biệt hóa sản phẩm, tức là sửa đổi một sản phẩm làm nó thu hút hơn, khác biệt hơn đối với một nhóm khách hàng nhất định. Sự khác biệt đòi hỏi một chiến lược gia tinh vi dựa vào giá trị nhận được của sản phẩm (Kotler va Armstrong (2001), dẫn theo Breidert (2005)). Qua giá tối đa có thể suy luận về mức WTP khi cải thiện chất lượng nước xem mức WTP này có chấp nhận được không.