MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây, hiểm họa do các tai biến thiên nhiên nhƣ động đất, núi lửa và sóng thần không ngừng gia tăng theo thời gian trên phạm vi toàn cầu. Cùng với sự bùng nổ dân số, sự phát triển kinh tế với tốc độ chóng mặt chính là nguyên nhân gây ra những tác động không đƣợc kiểm soát của con ngƣời vào lớp vỏ rắn của Trái Đất (nhƣ khai thác dầu khí, khoáng sản, xây dựng các nhà máy điện hạt nhân, hay thải các chất thải công nghiệp ra môi trƣờng, v.v…), góp phần đáng kể vào sự gia tăng mức độ rủi ro do động đất gây ra đối với cộng đồng. Các kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra mối liên quan trực tiếp giữa tần suất xuất hiện động đất với những thiệt hại về ngƣời và của do động đất gây ra Các công trình thủy điện ngày nay đƣợc xây dựng ngày càng nhiều nhằm phục vụ đời sống sinh hoạt, sản xuất của con ngƣời. Dựa vào khai thác thủy năng biến đổi thành năng lƣợng, các nhà máy thủy điện thƣờng đƣợc xây dựng trên các con sông lớn, nằm trong các vùng núi có địa hình hiểm trở, nhằm tận dụng thế năng của nƣớc đi từ trên cao xuống.
Đây lại là khu vực dễ ảnh hƣởng nhất bởi động đất do là nơi tập trung các đứt gãy sinh chấn. Nhằm giảm thiểu những thiệt hại do động đất và đảm bảo an toàn cho các hoạt động phát triển kinh tế và dân sinh, vấn đề quan trọng là phải xác định đƣợc những khu vực xây dựng nhà máy thủy điện có khả năng phải chịu thiệt hại nếu động đất xảy ra hay không, từ đó đƣa ra những giải pháp hợp lý cho việc quy hoạch, thiết kế kháng chấn và phát triển bền vững. Đánh giá độ nguy hiểm động đất (độ nguy hiểm địa chấn) cho một khu vực nghiên cứu là quá trình áp dụng các phƣơng pháp và công cụ tính toán để xác định các hiệu ứng chấn động do động đất gây ra (độ lớn, tần suất hay chu kỳ lặp lại) tại khu vực đã cho trong một khoảng thời gian cho trƣớc. Điều này sẽ giúp các nhà quản lý có thể đƣa ra các biện pháp quản lý, đối phó phù hợp.
Công trình thủy điện Sông Lô 6 đang đƣợc xây dựng trên sông Lô – con sông có vị trí địa lý chạy dọc theo đứt gãy Sông Lô có khả năng gây động đất rất lớn. Do đó việc đánh giá nguy hiểm địa chấn và các rủi ro môi trƣờng tại nhà máy này là rất 1 cần thiết và có tính tham khảo cao trong công tác quản lý môi trƣờng, cứu hộ cứu nạn. Luận văn sẽ áp dụng các kiến thức về địa chấn và môi trƣờng nhằm thực hiện các đánh giá trên, đƣa ra khả năng ảnh hƣởng của việc xây dựng, vận hành nhà máy tới môi trƣờng gây ra bởi động đất.1 Tổng quan về nghiên cứu địa chấn a. Lý thuyết về địa chấn Động đất hay địa chấn là sự rung chuyển của mặt đất do kết quả của sự giải phóng năng lƣợng bất ngờ ở lớp vỏ Trái Đất.
Nó cũng xảy ra ở các hành tinh có cấu tạo với lớp vỏ ngoài rắn nhƣ Trái Đất. Chúng gây ra bởi các nguyên nhân: - Nội sinh: Do vận động kiến tạo của các mảng kiến tạo trong vỏ Trái đất, dẫn đến các hoạt động đứt gãy và/hoặc phun trào núi lửa ở các đới hút chìm. - Ngoại sinh: Thiên thạch va chạm vào Trái Đất, các vụ trƣợt lở đất đá với khối lƣợng lớn. - Nhân sinh: Hoạt động của con ngƣời gồm cả gây rung động không chủ ý, hay các kích động có chủ ý trong khảo sát hoặc trong khai thác hay xây dựng, đặc biệt là các vụ thử hạt nhân dƣới lòng đất.
Trong quan niệm thông thƣờng thì động đất đƣợc hiểu là các rung chuyển đủ mạnh trên diện tích đủ lớn, ở mức nhiều ngƣời cảm nhận đƣợc, có để lại các dấu vết phá hủy hay nứt đất ở vùng đó. Về mặt vật lý, các rung chuyển đó phải có biên độ đủ lớn, có thể vƣợt giới hạn đàn hồi của môi trƣờng đất đá và gây nứt vỡ. Nó ứng với động đất có nguồn gốc tự nhiên, hoặc mở rộng đến các vụ thử hạt nhân. Chú ý rằng các địa chấn kế tại các trạm quan sát địa chấn đƣợc thiết kế để ghi nhận các động đất dạng nhƣ vậy, và lọc bỏ các chấn động do nhân sinh gây ra.
Độ lớn của trận động đất thƣờng đƣợc phân chia theo thang Richter, theo đó độ lớn động đất có thể đƣợc chia thành các thang nhƣ sau: - 1–2 trên thang Richter: Không nhận biết đƣợc - 2–4 trên thang Richter: Có thể nhận biết nhƣng không gây thiệt hại - 4–5 trên thang Richter: Mặt đất rung chuyển, nghe tiếng nổ, thiệt hại không đáng kể 3 - 5–6 trên thang Richter: Nhà cửa rung chuyển, một số công trình có hiện tƣợng bị nứt - 6–7 trên thang Richter, 7–8 trên thang Richter: Mạnh, phá hủy hầu hết các công trình xây dựng thông thƣờng, có vết nứt lớn hoặc hiện tƣợng sụt lún trên mặt đất. - 8–9 trên thang Richter: Rất mạnh, phá hủy gần hết cả thành phố hay đô thị, có vết nứt lớn, vài tòa nhà bị lún - >9 trên thang Richter: Rất hiếm khi xảy ra - >10 trên thang Richter: Cực hiếm khi xảy ra b. Tình hình nghiên cứu đánh giá độ nguy hiểm động đất Trên thế giới Phƣơng pháp tất định bắt đầu đƣợc áp dụng trên thế giới từ đầu thế kỷ 20. Những nghiên cứu theo cách tiếp cận này thƣờng dựa trên việc đối sánh các số liệu quan sát thực tế về những thiệt hại do động đất gây ra với phân bố không gian và các đặc trƣng địa vật lý của các cấu trúc địa chất nằm bên dƣới khu vực bị thiệt hại.
Năm 1937, tập bản đồ phân vùng động đất đầu tiên ra đời tại Liên bang Xô viết (Liên xô cũ). Đây là kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học tại Viện Vật lý Trái Đất, Viện Hàn lâm khoa học Liên xô. Do không có đầy đủ các dữ liệu quan trắc về rung động mạnh của nền, các bản đồ phân vùng động đất của Liên xô cũ và Liên bang Nga hiện nay đều lựa chọn cƣờng độ chấn động trên mặt (I) theo thang MSK-64 làm tham số thể hiện trên bản đồ. Ngay sau khi ra đời, phiên bản đầu tiên của các bản đồ phân vùng động đất đƣợc đƣa vào tiêu chuẩn xây dựng của nƣớc cộng hòa Nga lúc bấy giờ.
Các bản đồ phân vùng động đất Liên xô trong thời gian từ năm 1937 đến năm 1997 đƣợc xây dựng bằng phƣơng pháp tất định. Phƣơng pháp xác suất chỉ đƣợc áp dụng trong phân vùng động đất ở Liên xô cũ bắt đầu từ năm 1997. Các phiên bản cập nhật của tập bản đồ phân vùng động đất tại Nga đƣợc ban hành vào các năm 1997, 2003 và 2012. Ở Trung Quốc, bản đồ phân vùng động đất toàn lãnh thổ đầu tiên ra đời năm 1957.
Bản đồ này đƣợc gọi là “bản đồ thế hệ 1”, đƣợc xây dựng bằng phƣơng pháp 4 tất định và chủ yếu dựa trên cơ sở các tiêu chí địa chất về nguy hiểm địa chấn. Các bản đồ phân vùng động đất thế hệ sau đó của Trung quốc lần lƣợt đƣợc công bố vào các năm 1977, 1990 và 2001. Ở Mỹ, độ nguy hiểm địa chấn đƣợc biết đến và đƣa vào áp dụng cho các công trình xây dựng sau sự kiện động đất 6.4 năm 1933 xảy ra ở Long Beach, California làm 120 ngƣời thiệt mạng và gây thiệt hại 50 triệu USD. Sau sự kiện trên, nguy hiểm địa chấn đã dần đƣợc đƣa vào để thiết kế các công trình xây dựng có khả năng kháng trụ khi có động đất xảy ra.
Từ năm 1940 đến 1950, các thông số định lƣợng về nguy hiểm địa chấn đã đƣợc đƣa ra ngày càng hoàn thiện hơn. Sau đó các bản đồ độ nguy hiểm địa chấn dựa trên phƣơng pháp phân tích xác suất cũng đƣợc giới thiệu: Milne và Davenport (1969) đã công bố bản đồ độ nguy hiểm địa chấn cho Canada, Cornel (1968)[4] đã phát triển một phƣơng pháp luận khác so với Milne và Daveport, phƣơng pháp luận này sau đó đƣợc McGuire viết thành chƣơng trình tính dựa trên nền FORTRAN. Trong phƣơng pháp tính của Cornell-McGuire, phân bố không gian của động đất đƣợc thể hiện bằng các nguồn địa chấn, có thể là nguồn diện (vùng nguồn địa chấn) hoặc nguồn đƣờng (đới đứt gãy). Các vùng địa chấn này đƣợc xác định bởi thông tin về địa chấn kiến tạo.
Tập bản đồ nguy hiểm động đất quốc gia đƣợc thành lập bằng phƣơng pháp xác suất đƣợc Algermissen và Perkins công bố lần đầu tiên năm 1976. Trong vòng vài thập kỷ sau đó, tập bản đồ này đƣợc các chuyên gia của Cơ quan khảo sát địa chất Mỹ (USGS) liên tục cập nhật vào các năm 1996, 2002 (Frankel và nnk.), 2008, 2012 và 2014 (Petersen và nnk. Tại nhiều quốc gia khác trên thế giới, công tác phân vùng động đất toàn lãnh thổ cũng đƣợc thực hiện, mặc dù với những thời điểm khởi đầu khác nhau, nhƣng đều cùng chung cách tiếp cận trong phƣơng pháp luận và quy trình thực hiện. Bƣớc sang thế kỷ 21, những tiến bộ về khoa học và công nghệ, đặc biệt là các công nghệ mới nhƣ GIS, viễn thám, và công nghệ tin học phục vụ tính toán là động lực cho những tiến bộ và cải cách quan trọng trong quy trình thực hiện và phƣơng pháp luận đánh giá độ nguy hiểm động đất.
Việc đánh giá độ nguy hiểm động đất trở thành một mối quan tâm đa ngành với sự tƣơng tác của nhiều lĩnh vực nghiên 5 cứu khác nhau nhƣ địa chấn học (nghiên cứu sự giải phóng và lan truyền năng lƣợng địa chấn), địa chất (xác định vị trí, hình thể và tiềm năng của nguồn địa chấn), địa vật lý (định lƣợng hoá các nguồn địa chấn mà khoa học địa chất không xác định đƣợc), toán học (xây dựng các thuật toán và công cụ tính toán cho cả hai phƣơng pháp tất định và xác suất), địa kỹ thuật (đánh giá các hiệu ứng địa phƣơng tới sự rung động nền), xây dựng công trình (ƣớc lƣợng rủi ro động đất đô thị) và xã hội học (nghiên cứu tác động kinh tế-xã hội của rủi ro động đất). Tại Việt Nam Ở Việt nam, phƣơng pháp tất định đã ra đời từ giữa thế kỷ 20 và phát triển mạnh cho đến giữa thập kỷ 80. Trong khoảng thời gian từ năm 1968 đến năm 1985, các phƣơng pháp tất định đƣợc áp dụng ở Việt Nam để đánh giá định lƣợng độ nguy hiểm động đất.