Chương 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về lâm sản ngoài gỗ Ngày nay, trong Lâm nghiệp thuật ngữ lâm sản ngoài gỗ(LSNG) được hiểu tương đối thống nhất, chính thức thay cho thuật ngữ lâm sản phụ (minor forest product /secondary forest product).
Trong đó đáng chú ý là các định nghĩa đưa ra tại các hội nghị của các chuyên gia trong lĩnh vực này. * Năm 1991, Hội nghị về LSNG các nước Châu Á - Thái Bình Dương (IEC) họp tại Bangkok - Thái Lan đưa ra định nghĩa có thể áp dụng cho hầu hết các nước trong khu vực như sau: “Lâm sản ngoài gỗ (Non-wood forest product) bao gồm tất cả các sản phẩm tái tạo được và hữu hình, không phải là gỗ xẻ, gỗ nguyên liệu và gỗ củi, thu được từ rừng hoặc bất kỳ loại hình sử dụng đất tương tự nào cũng như đất trồng cây gỗ. Vì vậy, các sản phẩm như cát, đá, nước,du lịch sinh tháicũng là lâm sản ngoài gỗ". * Hội nghị lâm nghiệp do Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc (FAO) tổ chức tháng 06/1995 đã đưa ra và thông qua một định nghĩa khác về LSNG: "Lâm sản ngoài gỗ (Non timber forest product) bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có cây rừng (wooded lands) và cây ở ngoài rừng".
Định nghĩa này đã nhận biết được chức năng dịch vụ quan trọng của tài nguyên LSNG bao gồm các hàng hóa dịch vụ có nguồn gốc từ thực vật và động vật. Với định nghĩa này, FAO cũng đã nhận biết về chức năng dịch vụ quan trọng đang gia tăng của tài nguyên LSNG. Chẳng hạn, du lịch sinh thái là một ngành công nghiệp lớn trên thế giới đang phát triển rất nhanh. Vì thế, rừng, vùng hoang dã, động và thực vật hoang dã là thành phần của du lịch sinh thái nên được nhận biết trong phạm vi LSNG.
Ngoài các quan niệm trên, một số ý kiến khác về LSNG được hiểu theo nhiều cách dựa vào định nghĩa của các nhà khoa học đưa ra ở các thời điểm khác nhau: * Ở Việt Nam, trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 lâm sản được chia thành hai loại: lâm sản chính (principale richesse forettière) là những sản phẩm gỗ; Sản phẩm phụ của rừng hay lâm sản phụ (produit secondaire de la forêt), bao gồm động vật và thực vật cho những sản phẩm ngoài gỗ. Từ 1961, lâm sản phụ được coi trọng và được mang tên đặc sản rừng. "Đặc sản rừng bao gồm cả thực vật và động vật rừng là nguồn tài nguyên giàu có của đất nước. Nó có vị trí quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, trong đời sống nhân dân, quốc phòng và xuất khẩu.
Theo định nghĩa đó Đặc sản rừng là một bộ phận của tài nguyên rừng nhưng chỉ tính đến những sản phẩm có công dụng hoặc có giá trị đặc biệt và ngoài các loài thực vật dưới tán rừng còn bao gồm các loài cây cho gỗ đặc hữu hoặc PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 10 được coi là đặc hữu của Việt Nam như: Pơ mu, Hoàng đàn, Kim giao,. như vậy thuật ngữ đặc sản cũng mang ý nghĩa kinh tế, vì không tính đến những sản phẩm không có hoặc chưa biết giá trị. Vì thế, danh mục những đặc sản rừng trong từng thời điểm cũng tập trung sự chú ý vào một số sản phẩm nhất định. Trong điều kiện Việt Nam chúng ta có thể hiểu: "LSNG là các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật lấy từ rừng hoặc đất rừng (kể cả đất hoang hóa) không bao gồm gỗ, củi, than gỗ và các sản phẩm không có nguồn gốc sinh vật.
LSNG bao gồm các loài tre nứa, song, mây, cây thuốc, cây lương thực thực phẩm, gia vị, tinh dầu, dầu béo, nhựa, nhựa mủ, ta nanh, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã sống và các sản phẩm của chúng"( Quyết định số 280/2006/QĐ-TTg). Như vậy, việc định nghĩa cho rõ ràng thế nào là LSNG là vấn đề khó khăn và không thể có một định nghĩa duy nhất đúng. Nó có thể thay đổi chút ít phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, quan điểm và nhu cầu khác nhau của các địa phương cũng như ở các thời điểm khác nhau. Tuy nhiên, qua các khái niệm trên có thể đưa ra những cách nhìn chung về LSNG, và qua đó giúp chúng ta nhận thức một cách đúng đắn về giá trị của nó.
Một số quan điểm về phân loại lâm sản ngoài gỗ 1. Quan điểm về phân loại lâm sản ngoài gỗ trên thế giới Trên thế giới cũng đã có nhiều hệ thống phân loại được đề xuất. Một số hệ thống phân loại dựa vào dạng sống của cây tạo ra các sản phẩm như : nhóm cây gỗ, cây bụi, cây thảo, dây leo gỗ, dây leo thân thảo. Hệ thống phân loại khác lại dựa vào các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ, như hệ thống phân loại đã thông qua trong hội nghị tháng 11/1991 tại Bangkok.
Trong hệ thống này LSNG được chia làm 6 nhóm: Nhóm 1 - Các sản phẩm có sợi: Tre nứa, song mây, lá và thân có sợi và các loại cỏ. Nhóm 2 - Sản phẩm làm thực phẩm. Các sản phẩm có nguồn gốc thực vật: thân, chổi, rễ, củ,lá, hoa, quả, quả hạch, gia vị, hạt có dầu và nấm. Các sản phẩm có nguồn gốc động vật: mật ong, thịt động vật rừng, cá, trai ốc, tổ chim ăn được, trứng và côn trùng.
Nhóm 3 - Thuốc và mỹ phẩm có nguồn gốc thực vật Nhóm 4 - Các sản phẩm chiết xuất: gôm, nhựa dầu, nhựa mủ, ta nanh và thuốc nhuộm, dầu béo và tinh dầu. Nhóm 5 - Động vật và các sản phẩm từ động vật không làm thực phẩm: tơ, động vật sống, chim, côn trùng, lông mao, lông vũ, da, sừng, ngà, xương và nhựa cánh kiến đỏ. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 11 Nhóm 6 - Các sản phẩm khác: như lá Bidi (lá thị rừng dùng gói thuốc lá ở Ấn Độ). Năm 1992, Meldelson đã đưa ra 2 cách phân loại lâm sản ngoài gỗ căn cứ vào mục đích khác nhau của con người về lâm sản ngoài gỗ.
Căn cứ vào giá trị sử dụng ông chia làm 5 nhóm: - Các sản phẩm thực vật ăn được; - Các sản phẩm keo và nhựa; - Các sản phẩm thuốc nhuộm và tanin; - Nhóm cây có sợi; - Nhóm cây làm thuốc. Và căn cứ vào thị trường tiêu thụ để chia làm 3 nhóm: - Nhóm bán trên thị trường rộng; - Nhóm bán tại địa phương; - Nhóm được sử dụng trực tiếp bởi ngườithu hoạch. Ông cho rằng, nhóm thứ 3 là nhóm chiếm đa số, vì vậy giá trị đích thực của lâm sản ngoài gỗ thường chưa được biết đến và tính toán cho phù hợp. Năm 1995, chuyên gia về LSNG của FAO đã đề xuất hệ thống phân loại LSNG gồm 4 nhóm chính sau: - Cây sống và các bộ phận của cây - Động vật và các sản phẩm của động vật - Các sản phẩm được chế biến (các gia vị, dầu nhựa thực vật… ) - Các dịch vụ từ rừng.
Ở Ấn Độ, người ta đề xuất một hệ thống phân loại lâm sản ngoài gỗ tiêu chuẩn (Shiva & Mathur, 1997). Hệ thống phân loại này được chia làm 2 nhóm chính: nhóm các sản phẩm (I) và nhóm các dịch vụ (II). Trong đó nhóm I bao gồm 3 nhóm sản phẩm phụ đó là: (a) Lâm sản ngoài gỗ có nguồn gốc từ thực vật; (b) Lâm sản ngoài gỗ có nguồn gốc từ động vật và (c) Lâm sản ngoài gỗ có nguồn gốc khoáng vật. Nhóm II gồm các dịch vụ như: du lịch, giải trí, xem động vật hoang dã.
Toàn bộ các hệ thống được chia thành 26 nhóm nhỏ xếp thứ tự từ A đến Z. Đây là một hệ thống phân loại mới xây dựng dựa trên cơ sở cải tiến các hệ thống phân loại cũ, tuy nhiên việc phân chia các nhóm sản phẩm ở đây quá chi tiết nên gặp khó khăn trong việc sắp xếp các sản phẩm của các loài nhiều công dụng. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 12 Về phân loại LSNG là thực vật, việc phân loại chúng có rất nhiều quan điểm khác nhau. Những phương pháp phân loại chủ yếu là: - Phân loại theo hệ thống sinh vật: Đây là cách phân loại theo hệ thống tiến hoá của sinh giới.
Được sắp xếp một cách khách quan vào hệ thống các bậc phân loại từ lớn đến nhỏ: Giới/Ngành/Lớp/Họ/Loài. - Phân loại theo hình thái và dạng sống: Đây là cách phân loại theo hình thái bên ngoài của các loài cây. Các thực vật cho LSNG được phân loại thành: Cây gỗ lớn; cây gỗ nhỏ; cây thân thảo; cây dây leo; cây thân đốt; cây bụi; các loại cỏ. - Phân loại theo hệ thống tầng thứ thực vật:Theo hệ thống tầng thứ là phân loại LSNG theo các tầng tán của tán rừng.
-Phân loại theo nhóm giá trị sử dụng: Các LSNG khác nhau không kể nguồn gốc nhưng có cùng giá trị sử dụng thì được xếp vào một nhóm. Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản, dễ áp dụng và sử dụng nhiều kiến thức bản địa của người dân nên có ý nghĩa thực tiễn lớn, được các nhà nghiên cứu, nhà kinh doanh lẫn người dân quan tâm. Việc phân loại LSNG theo công dụng cũng đang tồn tại nhiều quan điểm, theo FAO (1984) và các tác giả khác như Mendelsohn (1992), Kamol Visuphaka (1987),. các LSNG được phân thành các nhóm: 1) Làm lương thực, thực phẩm; 2) Làm vật liệu xây dựng; 3) Làm hàng thủ công mỹ nghệ; 4) Làm dược liệu, hương liệu; 5) Làm cảnh.
Do mục đích, đối tượng sử dụng LSNG rất đa dạng, chính vì vậy việc phân loại nguồn tài nguyên này có rất nhiều quan điểm khác nhau. Trên thế giới đã có nhiều khung phân loại LSNG đã được đề xuất, trong số đó có thể kể đến là: * Phương pháp phân loại theo hệ thống sinh: Đây là cách phân loại theo hệ thống tiến hóa của sinh giới. Được sắp xếp theo một cách khách quan dựa vào hệ thống các bậc phân loại từ cao đến thấp: Giới/Ngành/Lớp/Họ/Loài. * Phương pháp phân loại theo hình thái và dạng sống: Dựa vào các đặc điểm hình thái bên ngoài của các loài cây để phân thành các nhóm: Cây gỗ lớn; Cây gỗ nhỏ; Cây thân thảo; Cây dây leo; Cây thân đốt; Cây bụi; Các loại cỏ.
* Phương pháp phân loại theo nhóm giá trị sử dụng: Các LSNG khác nhau không kể nguồn gốc, hình thái, dạng sống,. nhưng nếu có cùng giá trị sử dụng thì được xếp vào một nhóm.