CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Sông Bần Vũ Xá bắt nguồn từ ngã ba sông Cầu Treo Thị trấn Bần tới địa phận xã Hòa Phong, huyện Mỹ Hào và đổ ra Bắc Hưng Hải tại xã Trường Kỷ tình Hải Dương. Sông chảy qua các xã Minh Hải của huyện Văn Lâm, Thị trấn Bần, xã Nhân Hòa, Phan Đình Phùng, Cẩm Xá, Dương Quan và Hòa Phong huyện Mỹ Hào.1: Sơ đồ khu vực nghiên cứu - sông Bần Vũ Xá đoạn chảy qua tỉnh Hưng Yên Ghi chú: 6 1.
Địa hình, địa chất 1) Địa hình Địa hình của tỉnh tương đối đồng nhất và có hướng dốc chủ yếu theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông. Điểm cao nhất có cốt + 9 m đến 10 m tại khu đất bãi thuộc xã Xuân Quan huyện Văn Giang; điểm thấp nhất có cốt + 0,9 m tại xã Tiên Tiến, huyện Phù Cừ. Huyện Mỹ Hào có cốt đất cao + 6 đến + 7 m. 2) Địa chất Tỉnh Hưng Yên nằm gọn trong một ô trũng thuộc đồng bằng sông Hồng được cấu tạo bằng các trầm tích bở rời thuộc kỷ Đệ Tứ, chiều dày từ 150 m đến 160 m.
Theo thứ tự địa tầng bao gồm các loại đất đá như sau: - Các trầm tích Phistoxen, bề dày 130 m đến 140 m với các trầm tích vụn thô gồm sạn, sỏi, cát thô, cát trung có xen kẹp các thấu kính xét bột. Bao gồm các lớp: + Tầng bồi tích sông, thành phần chủ yếu là cuội, sạn, cát đa khoáng xen kẹp các lớp sét mỏng màu xám, màu nâu, nâu gụ, bề dày đạt 75 đến 80 m, nằm chính hợp trên tầng bồi tích sông, phân bố khắp khu vực. + Tầng bồi tích sông kiểu hỗn hợp, thành phần là cát, sét, sét cát màu xám, màu nâu, nâu gụ, bề dày đạt 50 đến 60 m nằm chỉnh hợp trên tầng bồi tích sông, phân bố khắp khu vực. - Các trầm tích Holoxen, bề dày 5 đến 30 m thành phần chủ yếu là sét cát, sét bột, sét chứa hữu cơ, phân bố trên mặt địa tầng bao gồm các lớp: + Bồi tích sông biển hỗn hợp, thành phần có cát, cát sét, chiều dày trên dưới 10m.
+ Bồi tích biển, thành phần là sét cát, sét màu xám, chiều dày 3 đến 7 m. + Bồi tích sông hiện đại, chủ yếu phân bố ở dải cục bộ ven sông Hồng, chiều dày 3 đến 5m, thành phần là sét pha cát. Khí hậu Hưng Yên thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, tuy không giáp với biển nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của khí hậu miền duyên hải, hàng năm chia hai mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, thời tiết nóng ẩm mưa nhiều. Mùa đông lạnh, ít mưa từ tháng 11 đến tháng 3.
7 Vùng nghiên cứu nằm ở huyện Mỹ Hào và Văn Lâm, có trạm khí tượng Hưng Yên là gần nhất, đặc trưng cho chế độ khí hậu của vùng nghiên cứu. Dựa theo số liệu niên giám thống kê trong thời kì nhiều năm của trạm (giai đoạn 2003-2013) xác định được các đặc trưng khí hậu chủ yếu năm trung bình nhiều năm của trạm như Bảng 1.1: Đặc trưng khí hậu năm trung bình nhiều năm của trạm Hưng Yên Chỉ tiêu Nhiệt độ Lượng mưa Giờ nắng Độ ẩm (0C) (mm) (giờ) (%) Tháng I 14,8 32 31 82 II 17,7 11 83 86 III 19,7 35 45 87 IV 23,9 82 46 88 V 27,1 161 137 85 VI 29,4 152 159 82 VII 29,6 219 215 73 VIII 28,7 219 129 86 IX 27,6 219 140 86 X 25,4 108 121 82 XI 22 82 90 79 XII 18,9 48 80 78 * Cả năm 23,7 1.276 84 (Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hưng Yên) Từ bảng trên rút ra được những nhận xét về đặc điểm khí hậu vùng nghiên cứu như sau: 1) Nhiệt độ không khí Nằm trong vùng nhiệt đới, Hưng Yên quanh năm được tiếp nhận một lượng bức xạ rất dồi dào trên nền nhiệt độ cao. Nhiệt độ khá đồng nhất trên địa bàn tỉnh, phù hợp với yêu cầu phát triển nông nghiệp quanh năm, tuy nhiên do sự chi phối mạnh mẽ của hoàn lưu cực đới nên hàng năm nhiệt độ tại Hưng Yên phân hoá thành hai mùa có tính 8 chất khác nhau: Mùa hè nóng, nhiệt độ trung bình ổn định trên 250C, mùa đông rét lạnh, nhiệt độ trung bình dưới 200C. Nhiệt độ không khí năm trung bình nhiều năm là 23,70C.
Tháng 1 có nhiệt độ trung bình thấp nhất 14,80C, tháng 7 có nhiệt độ trung bình lớn nhất 29,60C. 2) Số giờ nắng trong năm Theo số liệu năm trung bình nhiều năm như trong bảng 1.1, tổng số giờ nắng trung bình năm 1.276 giờ, tháng 7 có nhiều giờ nắng nhất trong năm 215 giờ, tháng 3 có ít giờ nắng nhất 31 giờ. 3) Độ ẩm Chịu ảnh hưởng của các hoàn lưu biển, Hưng Yên có độ ẩm không khí khá lớn. Độ ẩm tương đối năm trung bình nhiều năm là 84%.
Tháng 4 có độ ẩm tương đối trung bình cao nhất là 88%, tháng 12 có độ ẩm tương đối trung bình thấp nhất là 78%. 4) Mưa Trong vùng, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, mùa khô thường từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Lượng mưa năm trung bình nhiều năm là 1. Tháng có lượng mưa trung bình trong nhiều năm cao nhất là tháng 7, tháng 8, tháng 9 (219mm).
Tháng có lượng mưa trung bình trong nhiều năm thấp nhất là tháng 2 (11mm) 1. Thủy văn 1) Mực nước Đoạn sông nghiên cứu chảy qua huyện Mỹ Hào và Văn Lâm, mực nước của sông Bần Vũ Xá chịu ảnh hưởng chủ yếu của chế độ thủy văn của hệ thống Bắc Hưng Hải, nguồn nước được cấp từ Bắc Hưng Hải qua sông Kim Sơn và sông Cầu Treo. 2) Dòng chảy Mùa lũ thường xảy ra chung với mùa mưa (tháng 5 đến tháng 9). Trong mùa lũ, nước trong sông lớn chủ yếu là do mưa lớn xảy ra trong khu vực.
Nước sông dâng cao không kịp tiêu ra hệ thống sông lớn nên thường xảy ra ngập úng một số vùng trong khu vực. 9 Dòng chảy trong sông trong mùa cạn chủ yếu là do nước ngầm và lượng nước tiêu bề mặt lưu vực cũng như lượng trữ trong lòng sông vào cuối mùa lũ cung cấp. Mặt khác, do sông nằm trong khu vực tưới của hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải, mùa kiệt được lấy nước từ sông Hồng vào qua cống Xuân Quan nên dòng chảy mùa kiệt của sông còn phụ thuộ vào chế độ cấp nước của hệ thống Bắc Hưng Hải. Tình hình hạn hán cũng thường xuyên xảy ra vào mùa cạn, mực nước sông xuống thấp vì vậy việc lấy nước tưới gặp nhiều khó khăn.
Điều kiện kinh tế, xã hội 1. Dân số và lao động Theo kết quả điều tra của Cục thống kê tỉnh Hưng Yên, dân số lưu vực sông Bần Vũ Xá thuộc 2 huyện Văn Lâm và Mỹ Hào năm 2012 là 67. Theo số liệu niên giám thống kê, tỷ lệ lao động là 59%. Mặc dù trong những năm gần đây, cơ cấu kinh tế đang dần chuyển sang lĩnh vực công nghiệp, tổng sản phẩm của các ngành công nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất trong cơ cấu tổng sản phẩm của địa phương nhưng với đặc thù là vùng thuần nông, số lao động làm trong các lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản vẫn đang chiếm tỷ lệ cao nhất 55,44% tổng số lao động, trong công nghiệp và xây dựng chiếm 25,07% tổng số lao động, còn lại số lao động trong lĩnh vực dịch vụ là 19,49%.2: Cơ cấu lao động lưu vực sông Bần Vũ Xá năm 2012 10 1.
Kinh tế Cùng với sự phát triển chung của tỉnh Hưng Yên, những năm gần đây kinh tế của các địa phương của lưu vực sông cũng không ngừng phát triển. Cơ cấu kinh tế của địa phương đang chuyển dần sang hướng công nghiệp và dịch vụ. Đặc biệt các ngành công nghiệp phát triển nhanh và có tốc độ tăng trưởng cao, quy mô và công nghệ đều tăng, tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. 2012 20,08 32,64 Nông, lâm nghiệp, thủy sản Công nghiệp và xây dựng 47,28 Dịch vụ Hình 1.3: Cơ cấu tổng sản phẩm của vùng nghiên cứu năm 2012 (%) Năm 2012, tổng sản phẩm của các ngành công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ lệ cao nhất là 47,28%, tiếp theo là tổng sản phẩm của các ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản 32,64%, các ngành dịch vụ có tỷ lệ tổng sản phẩm thấp nhất 20,08%.
Tình hình ô nhiễm nước và yêu cầu quản lý, bảo vệ chất lượng nước của sông Bần Vũ Xá 1. Tình hình ô nhiễm nước 1) Nước thải Vùng nghiên cứu nhiều năm trước đây là vùng thuần nông, dân cư chủ yếu là làm nông nghiệp. Một số điểm tập trung dân cư như Thị trấn Bần chưa có điều kiện phát triển công nghiệp, dịch vụ. Mật độ dân số còn thấp nên nguồn gây ô nhiễm còn ít, chưa ảnh hưởng nhiều tới chất lượng nước.
Trong khoảng hơn một chục năm trở lại đây, do yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, nằm trong xu thế phát triển kinh tế xã hội các tỉnh đồng bằng, kinh tế xã hội của lưu vực song bắt đầu khởi sắc và phát triển với tốc độ nhanh hơn trước rất nhiều. Dân cư tập trung đông, bắt đầu xuất hiện ngàycàng nhiều các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ, khu công nghiệp tập trung nên nguồn thải phát 11 triển nhanh, gây áp lực lên sông, biến đổi chất lượng nước sông. Chính vì vậy mà chất lượng nước sông đã bắt đầu suy giảm và ô nhiễm cục bộ tại một số khu vực, đặc biệt là khu vực chảy qua thì trấn Bần. Điều này đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển kinh tế xã hội của khu vực.
Bên cạnh việc tiếp nhận trực tiếp nước thải sinh hoạt và rác thải từ các hộ dân xã Minh Hải, Phan Đình Phùng, Cẩm Xá, Nhân Hòa, Dương Quang, Hòa Phong và thị trấn Bần thải trực tiếp xuống sông thì sông Bần Vũ Xá còn là nguồn tiếp nhận nước thải chính của một số công ty của khu công nghiệp Phố Nối A và một số cơ sở sản xuất kinh doanh phân tán dọc hai bên sông. Đây chính là những nguyên nhân gây nên tình trạng ô nhiễm nước sông. Kết quả điều tra thực tế cho thấy nước sông Bần Vũ Xá đục, có màu vàng nâu sậm, mùi hôi tanh. Trên sông không có thực vật nổi như bèo, rau muống nhưng có nhiều rác và có váng dầu.
Theo phản ánh của cán bộ xí nghiệp khai thác các công trình thủy lợi huyện Mỹ Hào thì vào mùa hè, nhiều cá rô phi nổi lên mặt nước lấy ôxi, có đợt cá chết trắng nổi trên mặt nước.