Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sự bùng nổ trong sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm từ nhựa đã mang lại nhiều tiện ích cho đời sống xã hội nhưng đồng thời cũng gây ra áp lực nghiêm trọng đối với môi trường toàn cầu. Chất thải nhựa và túi nilon với đặc tính khó phân hủy trong điều kiện tự nhiên đã và đang tạo ra hiện tượng "ô nhiễm trắng". Theo ước tính từ Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO) được tác giả dẫn lại, Việt Nam phát sinh khoảng 8 triệu tấn chất thải nhựa mỗi năm. Thực trạng gia tăng nhanh chóng của lượng chất thải nhựa xuất phát từ thói quen lạm dụng đồ nhựa dùng một lần, hạn chế trong năng lực phân loại và xử lý chất thải rắn sinh hoạt, cùng với mức độ nhận thức chưa đầy đủ của một bộ phận người dân về hiểm họa môi trường.

Tỉnh Bình Dương là địa phương có tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh, kéo theo sự gia tăng mật độ dân cư và khối lượng rác thải sinh hoạt hàng ngày. Nhằm đánh giá mức độ hiểu biết của cộng đồng dân cư và tìm kiếm các giải pháp quản lý, xử lý phù hợp với điều kiện địa phương, đề tài "Đánh giá nhận thức về tác hại đối với môi trường của chất thải nhựa, cách xử lý chất thải nhựa của người dân ở khu dân cư và đề xuất biện pháp hiệu quả trong xử lý chất thải nhựa" đã được thực hiện bởi sinh viên Phạm Thị Ngọc Thịnh (ngành Khoa học Môi trường, Khoa Khoa học Quản lý, Trường Đại học Thủ Dầu Một) dưới sự hướng dẫn của ThS. Hồ Bích Liên.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm:

  1. Đánh giá nhận thức của người dân về tác hại của chất thải nhựa đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng.
  2. Xác định thành phần và khối lượng chất thải nhựa thải bỏ hàng ngày của hộ gia đình tại địa phương.
  3. Xác định các phương pháp xử lý chất thải nhựa phổ biến đang được người dân áp dụng.
  4. Đề xuất một số giải pháp quản lý và xử lý rác thải nhựa nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đảm bảo mỹ quan đô thị.
  • Đối tượng nghiên cứu: Nhận thức, hiểu biết và hành vi xử lý rác thải nhựa của người dân tại khu dân cư.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn thị xã Tân Uyên và thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (khu vực có quy mô dân số 696.063 người).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được triển khai khảo sát thực địa và thu thập số liệu trong khoảng thời gian từ tháng 09/2020 đến tháng 11/2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các khái niệm cơ bản về vật liệu polyme tổng hợp nhân tạo, chất dẻo (plastic), rác thải nilon (polyethylene - PE), hiện tượng "ô nhiễm trắng", nhận thức môi trường và nguyên lý quản lý môi trường đô thị. Cơ sở lý thuyết cũng làm rõ nguồn gốc phát sinh rác thải nhựa trong chu trình sinh hoạt, thương mại, dịch vụ, xây dựng và sản xuất công nghiệp, đồng thời tổng hợp các cơ chế tác động lý - hóa học của hạt vi nhựa, các hợp chất phụ gia độc hại (BPA, phthalates, nonylphenol, styrene) và các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POPs/PBTs như DDT, PCB, PAH, HCH theo Công ước Stockholm).

Phương pháp nghiên cứu được triển khai kết hợp giữa nghiên cứu bàn giấy và khảo sát thực địa:

  • Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập, phân tích và kế thừa các tài liệu, báo cáo khoa học, số liệu thống kê đã công bố từ Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hiệp hội Nhựa Việt Nam, Ngân hàng Thế giới (World Bank 2018), Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) và Tổ chức Bảo tồn Đại dương (Ocean Conservancy).
  • Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Thiết kế bảng hỏi cấu trúc (phiếu khảo sát) gồm các nhóm câu hỏi về hiện trạng sử dụng, phương thức xử lý, nhận thức tác động môi trường/sức khỏe, mức độ sẵn sàng thay đổi hành vi và kênh tiếp cận thông tin. Tiến hành phỏng vấn trực tiếp mẫu ngẫu nhiên gồm $n = 55$ hộ gia đình sinh sống tại thị xã Tân Uyên và thành phố Thủ Dầu Một.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Nhập liệu, thống kê mô tả, tổng hợp tỷ lệ phần trăm và biểu diễn dữ liệu dưới dạng bảng biểu, đồ thị thông qua phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực trạng ô nhiễm rác thải nhựa trên phạm vi toàn cầu và tại Việt Nam:

  • Thực trạng tại Việt Nam: Chỉ số tiêu thụ nhựa bình quân đầu người tại Việt Nam tăng mạnh từ 3,8 kg/năm (1990) lên 41 kg/năm (2015). Riêng Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh thải ra môi trường trung bình 80 tấn nhựa và nilon mỗi ngày. Chất thải nhựa chiếm 8–12% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt cả nước, tương đương khoảng 2,5 triệu tấn thải bỏ mỗi năm. Tại TP. Hồ Chí Minh, trong 250.000 tấn chất thải nhựa phát sinh mỗi năm có tới 48.000 tấn (19,2%) được đem chôn lấp tại các bãi chôn lấp tập trung.
  • Thực trạng toàn cầu: Toàn thế giới đã sản xuất 8,3 tỷ tấn nhựa, phát sinh 6,3 tỷ tấn rác thải nhựa (chỉ 9% được tái chế, 12% bị tiêu hủy bằng hình thức đốt, 79% tồn đọng tại bãi rác và môi trường tự nhiên). Báo cáo trích dẫn từ EPA ghi nhận Việt Nam đứng thứ 4 thế giới về lượng rác thải nhựa xả ra biển (khoảng 1,8 triệu tấn/năm), xếp sau Trung Quốc (8,8 triệu tấn), Indonesia (3,2 triệu tấn) và Philippines.
  • Tác động đa chiều: Phân tích chi tiết tác động của rác thải nhựa đến môi trường đất (làm đất chai cằn, cản trở rễ cây), môi trường không khí (đốt nhựa sinh khí độc dioxin và furan gây ngộ độc, ung thư và khí nhà kính), môi trường nước (gây nghẽn dòng chảy, sinh vật biển nuốt phải gây tổn thương đường tiêu hóa, tích lũy sinh học vi nhựa). Về kinh tế - xã hội, rác thải nhựa gây thiệt hại cho ngành đánh cá (Scotland tổn thất 15–17 triệu USD/năm), du lịch và luồng hàng hải (các nước châu Á chi hơn 1 tỷ USD/năm để dọn dẹp và sửa chữa tàu thuyền).
  • Tổng hợp các nghiên cứu nhận thức trước đó: Báo cáo khảo sát hiện trạng chất thải nhựa tại Việt Nam năm 2019 cho thấy chỉ 21% hộ gia đình biết nhựa làm từ dầu mỏ/khí đốt; 63–65% biết tác hại tiêu cực đến môi trường và sức khỏe; 43% hộ thải 2–4 túi nilon/ngày; và chỉ có 31% hộ thực hiện phân loại rác tại nguồn.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết về quy trình nghiên cứu và cơ cấu các nội dung khảo sát thực địa được thực hiện tại 55 hộ gia đình trên địa bàn thị xã Tân Uyên và thành phố Thủ Dầu Một vào tháng 09/2020:

  • Nội dung 1: Khảo sát loại sản phẩm nhựa tiêu dùng, khối lượng phát sinh và nguồn gốc phát sinh (cửa hàng tạp hóa, siêu thị, quán ăn, xí nghiệp, bệnh viện).
  • Nội dung 2: Khảo sát các hình thức xử lý rác thải nhựa tại hộ gia đình (tái sử dụng, vứt bỏ, đốt rác, chôn lấp) và sự tồn tại của quy định tại địa phương.
  • Nội dung 3: Đánh giá nhận thức của người dân về các môi trường chịu tác động, các bệnh lý liên quan, lộ trình phát tán của rác thải và mức độ lo ngại đối với sức khỏe.
  • Nội dung 4: Khảo sát ý thức, trách nhiệm và mức độ thường xuyên thực hiện các hành vi giảm thiểu đồ nhựa dùng một lần.
  • Nội dung 5: Đánh giá mức độ hưởng ứng các phong trào cộng đồng, kênh tìm kiếm thông tin và nhu cầu tiếp nhận kiến thức về bảo vệ môi trường.
  • Nội dung 6: Tổng hợp dữ liệu thực tế làm cơ sở đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày toàn bộ kết quả định lượng thu thập từ 55 phiếu khảo sát tại thị xã Tân Uyên và thành phố Thủ Dầu Một:

1. Hiện trạng sử dụng và xử lý rác thải nhựa

  • Cơ cấu sản phẩm sử dụng: Túi nilon và bao bì nhựa chiếm tỷ lệ cao nhất với 67,27% (37/55 hộ), tiếp theo là chai nhựa, hộp nhựa dùng một lần chiếm 40,0% (22/55 hộ), và ống hút nhựa chiếm 25,45% (14/55 hộ).
  • Nguồn gốc phát sinh: Nguồn phát sinh chủ yếu đến từ các cửa hàng tạp hóa, siêu thị (40 ý kiến) và quán ăn (20 ý kiến); một số ít từ bệnh viện (3 ý kiến) và công ty, xí nghiệp (2 ý kiến).
  • Khối lượng phát sinh: Lượng rác thải nhựa bình quân của mỗi hộ gia đình ước tính dưới 1 kg/ngày/hộ.
  • Hình thức xử lý: Tỷ lệ xử lý rác thải nhựa tại hộ gia đình được thống kê chi tiết tại bảng dưới đây:
STT Hình thức xử lý rác thải nhựa Số lượng (hộ) Tỷ lệ (%)
1 Tái chế, sử dụng lại rất nhiều 11 20,00
2 Sử dụng lại nhưng rất ít 23 41,80
3 Vứt đi vì thấy bẩn và bừa bộn 13 23,60
4 Đốt toàn bộ 6 10,91
5 Chôn lấp 3 5,45
6 Khác 6 10,91

2. Hiểu biết và nhận thức của người dân về rác thải nhựa

  • Nhận thức chung: 92,7% người dân nhận thức được rác thải nhựa sau khi thải bỏ sẽ gây tác động xấu đến môi trường và sức khỏe.
  • Môi trường chịu ảnh hưởng nặng nề nhất: 61,8% (34 hộ) chọn môi trường biển; 23,63% (13 hộ) chọn môi trường không khí; 14,5% (8 hộ) chọn môi trường đất.
  • Hiểu biết về điểm đến của rác thải: 40,0% (22 hộ) cho rằng rác bị thải trực tiếp ra môi trường; 29,1% (16 hộ) cho rằng đem chôn lấp/đổ bãi rác; 25,45% (14 hộ) nghĩ rằng được tái chế; 5,45% (3 hộ) không biết.
  • Nhận thức về bệnh tật: Người dân nhận diện ô nhiễm nhựa liên quan đến bệnh ung thư (31 lượt ý kiến), bệnh đường hô hấp (30 lượt ý kiến) và bệnh đường tiêu hóa (19 lượt ý kiến); chỉ có 5 ý kiến cho rằng không gây bệnh.
  • Mức độ lo lắng: 52,7% rất lo lắng và 43,6% lo lắng về việc hạt vi nhựa xâm nhập qua đường ăn uống; 54,5% rất lo lắng nguy cơ hít thở không khí có vi nhựa hoặc khói đốt nhựa; 61,8% rất lo lắng việc sinh vật chết do nuốt phải rác nhựa; 65,5% rất lo lắng về nguy cơ hủy hoại sinh cảnh.
STT Nội dung đánh giá mức độ lo lắng Rất lo lắng (%) Lo lắng (%) Không lo lắng (%) Không biết (%)
1 Ảnh hưởng sức khỏe qua đường ăn uống 52,7 43,6 1,81 1,81
2 Ảnh hưởng qua hít thở / khói đốt nhựa 54,5 38,2 3,60 3,60
3 Ảnh hưởng qua đồ gia dụng, hóa mỹ phẩm 45,5 34,5 12,70 7,30
4 Ảnh hưởng qua một số loại vải có nilon 43,6 30,9 7,30 18,20
5 Tiêu diệt sinh vật do ăn nhầm hoặc mắc bẫy 61,8 27,3 3,63 7,30
6 Hủy hoại môi trường sống của sinh vật 65,5 20,0 3,60 10,90
7 Giảm giá trị cảnh quan, kinh tế du lịch - thủy sản 58,2 29,1 9,10 3,60

3. Ý thức thực hành và mức độ hưởng ứng giảm thiểu rác thải nhựa

  • Mức độ thường xuyên hành động: 36,4% thường xuyên từ chối đồ nhựa dùng 1 lần vì sức khỏe; 25,5% thường xuyên từ chối vì môi trường; 36,4% thường xuyên dùng túi nhiều lần; 34,5% chủ động giảm sử dụng đồ nhựa/nilon; 36,4% thường xuyên vận động người xung quanh. Vẫn còn 10,9% hộ chưa bao giờ thực hiện việc giảm sử dụng đồ nilon.
  • Mức độ sẵn sàng thay đổi: Người dân thể hiện sự đồng thuận cao trong việc thay đổi hành vi nếu có sự tác động từ môi trường xung quanh: 87,3% sẵn sàng tuân thủ quy định giảm chai nhựa tại nơi làm việc/trường học; 76,4% làm theo nếu người thân thực hiện; 74,5% làm theo nếu bạn bè/đồng nghiệp thực hiện; 74,5% chuyển đổi nếu các cửa hàng có sản phẩm thay thế.
  • Trách nhiệm giảm thiểu: Đa số cho rằng trách nhiệm thuộc về mỗi cá nhân (33 lượt ý kiến), tiếp đến là Nhà nước (31 lượt), cơ sở bán hàng (28 lượt), công ty môi trường (22 lượt) và cơ sở sản xuất (16 lượt).
  • Kênh thông tin và nhu cầu: Tiếp cận thông tin chủ yếu qua Internet (35 lượt), TV (33 lượt), tờ rơi/biểu ngữ (30 lượt), báo in (15 lượt) và radio (7 lượt). Thông tin mong muốn nhận được nhiều nhất là tác động của nhựa lên sức khỏe (36 lượt) và tác động lên môi trường (31 lượt).
  • Thực trạng quy định: 54,5% người dân phản ánh nơi cư trú chưa có quy định cụ thể về giảm thiểu rác thải nhựa, trong khi 45,5% cho biết đã có quy định.

Chương 4: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết toàn bộ các phát hiện nghiên cứu thực địa và kiến nghị chính sách đối với chính quyền địa phương, các đơn vị quản lý môi trường và cộng đồng dân cư.


Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã phản ánh bức tranh thực tế về nhận thức và hành vi quản lý chất thải nhựa tại các khu dân cư trên địa bàn tỉnh Bình Dương:

  • Kết quả thực nghiệm chính: Chỉ ra sự phân hóa rõ rệt giữa nhận thức lý thuyết và hành vi thực tế. Dù 92,7% hộ dân nhận thức được tác hại của rác thải nhựa và hơn 60% thể hiện mức độ lo ngại sâu sắc đối với các nguy cơ sinh thái và sức khỏe, tỷ lệ hộ thực hiện tái chế thường xuyên chỉ đạt 20,0%. Đáng chú ý, vẫn còn 10,91% hộ xử lý bằng biện pháp đốt rác tại nhà và 23,6% trực tiếp vứt bỏ đồ nhựa vì bất tiện.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất:
    1. Tái sử dụng đồ nhựa: Khuyến khích tận dụng chai lọ, bao bì nhựa dùng nhiều lần trong sinh hoạt gia đình hoặc thu gom bán cho các cơ sở phế liệu.
    2. Phân loại rác tại nguồn: Thiết lập hệ thống thùng rác phân loại 2–3 ngăn tại hộ gia đình nhằm tách riêng rác thải nhựa có thể tái chế, giảm tải áp lực cho khâu thu gom.
    3. Ngăn ngừa ô nhiễm: Tăng cường các biện pháp tuyên truyền qua Internet, truyền hình và hệ thống đoàn thể địa phương; đưa quy định hạn chế đồ nhựa vào quy chế khu phố, tổ dân phố.
    4. Hạn chế đốt rác tại nhà: Tuyên truyền về nguy cơ phát thải độc chất dioxin/furan, kiểm soát và xử phạt hành vi đốt rác tự phát trong khu dân cư.
  • Đóng góp của đề tài: Cung cấp bộ dữ liệu điều tra sơ cấp cập nhật năm 2020 tại hai địa bàn trọng điểm của tỉnh Bình Dương (thị xã Tân Uyên và thành phố Thủ Dầu Một), làm cơ sở thực tiễn phục vụ công tác xây dựng chương trình quản lý chất thải rắn sinh hoạt cấp cơ sở.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Quy mô mẫu khảo sát còn khiêm tốn ($n = 55$ hộ gia đình) do hạn chế về thời gian thực hiện (3 tháng) và nguồn lực cá nhân của sinh viên thực hiện; phạm vi khảo sát mới dừng lại ở một số khu dân cư thuộc 2 đơn vị hành chính; chưa tiến hành cân đo phân tích thành phần vật lý chi tiết của rác thải nhựa theo phương pháp phân tích mẫu chuẩn trong phòng thí nghiệm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô điều tra mẫu đại diện trên toàn địa bàn tỉnh Bình Dương; kết hợp lấy mẫu vật lý để định lượng chính xác tải lượng phát thải nhựa bình quân đầu người; nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của các mô hình kinh tế tuần hoàn và chính sách trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) áp dụng cho doanh nghiệp trên địa bàn.

Giá trị tham khảo

Báo cáo tốt nghiệp là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên các ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Khoa học Quản lý khi thực hiện các khóa luận, đề tài nghiên cứu xã hội học môi trường hoặc khảo sát nhận thức cộng đồng.
  • Cán bộ quản lý môi trường tại UBND các xã, phường, thị trấn, Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Tân Uyên và thành phố Thủ Dầu Một trong việc xây dựng kế hoạch truyền thông, phân loại rác thải tại nguồn và ban hành quy định bảo vệ môi trường khu dân cư.

Câu hỏi thường gặp

1. Loại sản phẩm nhựa nào được các hộ gia đình tại địa bàn khảo sát sử dụng phổ biến nhất?
Túi nilon và bao bì nhựa chiếm tỷ lệ cao nhất với 67,27% (37/55 hộ), tiếp đến là chai nhựa/hộp nhựa chiếm 40,0% và ống hút nhựa chiếm 25,45%. Nguồn gốc chủ yếu phát sinh từ các cửa hàng tạp hóa, siêu thị và quán ăn.

2. Tỷ lệ hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu áp dụng các phương pháp xử lý rác thải nhựa như thế nào?
Có 41,8% hộ sử dụng lại nhưng rất ít; 23,6% hộ chọn vứt bỏ trực tiếp vì thấy bẩn; 20,0% hộ tái chế và sử dụng lại thường xuyên; 10,91% hộ chọn phương pháp đốt toàn bộ; 5,45% chôn lấp và 10,91% áp dụng các hình thức khác.

3. Đa số người dân đánh giá môi trường nào chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ rác thải nhựa?
Có 61,8% (34/55 hộ) nhận định môi trường biển chịu tác động nặng nề nhất, trong khi 23,63% cho là môi trường không khí và 14,5% cho là môi trường đất.

4. Người dân có mức độ sẵn sàng tuân thủ như thế nào nếu nơi làm việc hoặc trường học có quy định giảm đồ nhựa?
Khảo sát ghi nhận có 87,3% hộ dân hoàn toàn đồng ý tuân thủ nếu cơ quan, trường học ban hành quy định giảm sử dụng chai nhựa; 9,1% phân vân và chỉ có 3,6% không đồng ý.

5. Các kênh thông tin nào được người dân tiếp cận nhiều nhất về vấn đề rác thải nhựa tại địa phương?
Hai kênh tìm kiếm thông tin chiếm tỷ lệ cao nhất là Internet (35/55 lượt) và Truyền hình/TV (33/55 lượt), tiếp theo là tờ rơi, biểu ngữ tuyên truyền (30/55 lượt).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Ngọc Thịnh đã hoàn thành các mục tiêu đề ra khi làm rõ hiện trạng sử dụng, phương thức xử lý và mức độ hiểu biết của 55 hộ gia đình tại thị xã Tân Uyên và thành phố Thủ Dầu Một đối với vấn đề rác thải nhựa. Kết quả nghiên cứu chứng minh người dân có nhận thức cao về tác hại môi trường (92,7%) nhưng tỷ lệ thực hành phân loại và tái chế triệt để vẫn còn thấp, đồng thời vẫn tồn tại tập quán đốt rác gây hại cho không khí (10,91%). Các giải pháp đề xuất tập trung vào tái sử dụng, phân loại tại nguồn, tăng cường quản lý khu dân cư và đa dạng hóa kênh truyền thông là những khuyến nghị thiết thực nhằm giảm thiểu ô nhiễm rác thải nhựa tại tỉnh Bình Dương.