CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC KCN VIỆT NAM Tính đến tháng 9 năm 2012, theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cả nước đã có 283 KCN (bao gồm cả khu chế xuất) được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 80.000 ha trên phạm vi 58 tỉnh, thành phố, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt gần 52.000 ha, chiếm khoảng 65% tổng diện tích đất tự nhiên. Kế hoạch 5 năm 1991 - 1995 là giai đoạn đầu và thí điểm phát triển KCN, số lượng các KCN được thành lập trong giai đoạn này là 12 KCN với tổng diện tích tự nhiên 2. Sau giai đoạn này, việc thành lập các KCN được đẩy nhanh.
Bên cạnh đó, còn có khoảng 878 Cụm công nghiệp do địa phương thành lập, trong đó 614 Cụm công nghiệp đang hoạt động. Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, trong thời gian qua, việc phát triển các KCN cũng diễn ra mạnh mẽ. Các KCN phân bố rải rác khắp các tỉnh thành trên cả nước và tập trung nhiều nhất tại khu kinh tế trọng điểm Phía Nam. Tuy nhiên, công tác quy hoạch phát triển các KCN hiện tại không tuân theo một quy hoạch thống nhất, một số nơi thiếu cơ sở khoa học [1]; chưa được giải quyết đồng bộ với việc đầu tư cơ sở hạ tầng về môi trường.
Nhiều khu, cụm công nghiệp vừa thu hút đầu tư, vừa xây dựng cơ sở hạ tầng, không tuân thủ thiết kế dự án đầu tư, dẫn đến không xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung, việc đầu tư cho hệ thống thoát nước còn manh mún, chắp vá, không hiệu quả. Hầu hết các địa phương đều có KCN riêng với các chức năng giống nhau, tạo ra sự cạnh tranh không cần thiết. Nhiều KCN đã giảm mức đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật KCN bao gồm cả hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung. Việc lựa chọn địa điểm cho KCN thường không tuân thủ theo những quy định liên quan.
Quá trình thiết kế và thực 7 hiện các quy hoạch phát triển công nghiệp có nhiều đơn vị cùng tham gia, nhưng còn thiếu sự điều phối chung và chịu trách nhiệm đến cuối cùng. Trong giai đoạn phát triển hiện nay, sự phát triển của KCN đã tạo sức ép không nhỏ đối với môi trường, đặc biệt gây ra ô nhiễm môi trường nước, môi trường không khí, ô nhiễm môi trường từ chất thải rắn. Ô nhiễm nước mặt do nước thải KCN a. Đặc trưng nước thải KCN Thành phần nước thải các KCN phụ thuộc vào ngành nghề của các CSSX trong KCN.
Thành phần nước thải của các KCN chủ yếu bao gồm các chất lơ lửng (SS), chất hữu cơ (thể hiện qua hàm lượng BOD, COD), các chất dinh dưỡng (biểu hiện bằng hàm lượng tổng Nitơ và tổng Phốtpho) và kim loại nặng. Đặc trưng thành phần nước thải của một số ngành công nghiệp (trước xử lý) Chất ô nhiễm Ngành công nghiệp Chất ô nhiễm chính (có thể có) Chế biến đồ hộp, thủy BOD, COD, pH, SS Màu, P tổng, N tổng sản, rau quả, đông lạnh Chế biến nước uống có BOD, pH, SS, N, P TDS, màu, độ đục cồn, bia, rượu Chế biến thịt BOD, pH, SS, độ đục NH4+, P, màu Sản xuất bột ngọt BOD, SS, pH, NH4+ Độ đục, NO3- , PO43+ COD, dầu mỡ, SS, CN+, Cr, Cơ khí SS, Zn, Pb, Cd Ni BOD5, COD, SS, Cr, Thuộc da NH4+, dầu mỡ, phenol, N, P, tổng Coliform sunfua pH, độ axit, F, kim loại Màu, SS, dầu mỡ, N, Phân hóa học nặng P 8 Sản xuất phân hóa học NH4+, NO3- , ure pH, hợp chất hữu cơ Sản xuất hóa chất hữu pH, tổng chất rắn, SS, Cl-, COD, phenol, F, cơ, vô cơ SO42- Silicat, kim loại nặng Sản xuất giấy SS, BOD, COD, phenol pH, độ đục, độ màu Nguồn [3] b. Ô nhiễm nước mặt do nước thải KCN Cùng với nước thải sinh hoạt, nước thải từ các KCN đã góp phần làm cho tình trạng ô nhiễm tại các sông, hồ, kênh, rạch trở nên trầm trọng hơn. Những nơi tiếp nhận nước thải của KCN bị ô nhiễm nặng nề, nhiều nguồn nước không thể sử dụng được cho bất kỳ mục đích nào.
Tình trạng ô nhiễm không chỉ dừng lại ở hạ lưu con sông mà lan lên tới cả phần thượng lưu theo sự phát triển của các KCN. Tại một số khu vực, do việc đầu tư hàng loạt các KCN không đi kèm hoặc chậm triển khai các biện pháp kiểm soát ô nhiễm tại nguồn, chất lượng nước mặt của nguồn tiếp nhận đã diễn biến theo chiều hướng xấu đi. Theo báo cáo giám sát của Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội, tỷ lệ các KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung ở một số địa phương rất thấp, có nơi chỉ đạt 15 - 20%, như Bà Rịa - Vũng Tàu, Vĩnh Phúc. Một số khu có xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, nhưng hầu như không vận hành để giảm chi phí.
Đến tháng 9/2011, mới có 107 khu có trạm XLNT tập trung, chiếm khoảng 62% số KCN đang hoạt động; 34 khu khác đang xây dựng trạm xử lý. Vẫn còn nhiều KCN xả thải thẳng vào môi trường không qua xử lý [1]. Thực trạng trên đã dẫn đến việc phần lớn nước thải của các KCN khi xả thải ra môi trường đều có các thông số ô nhiễm cao hơn nhiều lần so với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Ô nhiễm môi trường không khí do khí thải KCN a.
Đặc trưng khí thải của các KCN 9 Mỗi ngành sản xuất phát sinh các chất gây ô nhiễm không khí đặc trưng theo từng loại hình công nghệ. Rất khó xác định tất cả các loại khí gây ô nhiễm, nhưng có thể phân loại theo từng nhóm ngành sản xuất tại các KCN. Phân loại các nhóm ngành sản xuất có khả năng gây ô nhiễm Loại hình sản xuất công nghiệp Thành phần khí thải Tất cả các ngành lò hơi, lò sấy hay máy Bụi, CO, SO2, NO2, muội phát điện đốt nhiên liệu nhằm cung cấp khói, … hơi, điện, nhiệt cho quá trình sản xuất Nhóm ngành may mặc: phát sinh từ công Bụi, Clo, SO2 đoạn cắt may, giặt tẩy, sấy Nhóm ngành sản xuất thực phẩm và đồ Bụi, H2S uống Nhóm ngành sản xuất các sản phẩm từ kim Bụi kim loại đặc thù, bụi Pb loại trong công đoạn hàn chì, hơi hóa chất đặc thù, hơi dung môi hữu cơ đặc thù, SO2, NO2 Nhóm ngành sản xuất các sản phẩm nhựa, SO2, hơi hữu cơ, dung môi cao su cồn,… Chế biến thức ăn gia súc, gia cầm, dinh Bụi, H2S, CH4, NH3 dưỡng động vật Chế biến thủy sản đông lạnh Bụi, NH3, H2S Nhóm ngành sản xuất hóa chất như: - Ngành sản xuất sơn hoặc có sử dụng sơn - Dung môi hữu cơ bay hơi, - Ngành cơ khí (công đoạn làm sạch bề bụi sơn mặt kim loại) - Hơi axit - Ngành sản xuất hóa nông dược, hóa chất - H2S, NH3, lân hữu cơ, clo bảo vệ thực vật, sản xuất phân bón hữu cơ Các phương tiện vận tải ra vào các công ty SO2, CO, NO2,, bụi,… trong các KCN (Nguồn: Trung tâm quan trắc môi trường và kiểm soát ô nhiễm công nghiệp, 2009, Đại học Bách khoa Hà Nội). Ô nhiễm môi trường không khí do khí thải KCN Chất lượng môi trường không khí tại các KCN, đặc biệt là các KCN cũ, tập trung các nhà máy có công nghệ sản xuất lạc hậu hoặc chưa được đầu tư hệ thống xử lý khí thải, đã và đang bị suy giảm.
Ô nhiễm không khí tại các KCN chủ yếu bởi bụi, một số KCN có biểu hiện ô nhiễm CO, SO2 và tiếng ồn. Các KCN mới với các cơ sở có đầu tư công nghệ hiện đại và hệ thống quản lý thường có hệ thống xử lý khí thải trước khi xả ra môi trường nên thường ít gặp các vấn đề về ô nhiễm không khí hơn. Tình trạng ô nhiễm bụi ở các KCN diễn ra khá phổ biến, đặc biệt vào mùa khô và đối với các KCN đang trong quá trình xây dựng. Hàm lượng bụi lơ lửng trong không khí xung quanh của các KCN qua các năm đều vượt QCVN.
Tại các KCN, bên cạnh những ô nhiễm thông thường như SO2, NO2, CO, còn phải quan tâm và kiểm soát đến một số khí ô nhiễm đặc thù do loại hình sản xuất sinh ra như hơi axit, hơi kiềm, NH3, H2S. Bên cạnh đó, vấn đề ô nhiễm không khí bên trong CSSX của các KCN lại đang là vấn đề cần quan tâm. Một số loại hình sản xuất trong KCN (chế biến thủy sản, sản xuất hóa chất,.) đang gây ô nhiễm không khí tại chính các CSSX và tác động không nhỏ đến sức khỏe của người lao động bên trong và dân cư gần các CSSX. Ô nhiễm môi trường do chất thải rắn của KCN Hoạt động sản xuất tại các KCN đã phát sinh một lượng không nhỏ chất thải rắn và chất thải nguy hại.
Thành phần, khối lượng chất thải rắn phát sinh tại mỗi KCN tùy thuộc vào loại hình công nghiệp đầu tư, quy mô đầu tư và công suất của của các cơ sở công nghiệp trong KCN. Theo số liệu tính toán, chất thải rắn phát sinh từ các KCN phía Nam chiếm tỷ trọng lớn nhất so với các vùng khác trong toàn quốc, lên tới gần 3. 11 Lượng chất thải nguy hại phát sinh ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nhiều gấp 3 lần lượng chất thải nguy hại phát sinh ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và nhiều gấp khoảng 20 lần lượng chất thải nguy hại phát sinh ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung [1]. Do hầu hết các KCN chưa có điểm tập trung thu gom chất thải rắn nên các doanh nghiệp trong KCN thường ký hợp đồng với các Công ty môi trường đô thị tại địa phương hoặc một số doanh nghiệp có giấy phép hành nghề để thu gom và xử lý.
Việc đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại cũng do các doanh nghiệp chủ động đăng ký với các Sở Tài nguyên và Môi trường. TÁC HẠI Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG KCN Ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất công nghiệp nói chung và KCN nói riêng đã gây tác động xấu tới các hệ sinh thái tự nhiên. Mặt khác, ô nhiễm môi trường còn làm gia tăng gánh nặng bệnh tật, tăng tỷ lệ người mắc bệnh đang lao động tại chính KCN và cộng đồng dân cư sống gần đó. Đáng báo động là tỷ lệ này có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây và gây ra những tổn thất kinh tế không nhỏ.
Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (World Bank), Việt Nam có thể phải chịu tổn thất do ô nhiễm môi trường lên tới 5,5% GDP hàng năm.